Cựu chiến binh

Cựu chiến binh- Nguyễn Ngọc Sia

Vĩnh Long20/11/2025Phường Tân Ngãi (Phường Tân Ngãi)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

ĐƯƠNG ĐẦU VỚI BÌNH ĐỊNH TRỌNG ĐIỂM, THAM GIA CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN (1965 - 1968)
Năm 1965 đế quốc Mỹ đã chuyển sang chiến lược chiến tranh cục bộ ở miền Nam và tiến hành chiến tranh phá hoại ở miền Bắc. Chống Mỹ cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng của dân tộc ta từ Nam đến Bắc cũng nhằm bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ tiến tới thực hiện hòa bình thống nhất tổ quốc. Tháng 05/1965, đồng chí Đặng Văn Chức (Tư Hiền) và đồng chí Năm Hòa – Tỉnh ủy viên được phân công trực tiếp chỉ đạo huyện Ba Tri đã triệu tập hội nghị Huyện ủy mở rộng trong thời gian 4 ngày tại rừng Mông (xã Tân Xuân) để kiểm điểm tình hình của huyện. Hội nghị đã xác định nhiệm vụ của Đảng bộ huyện Ba Tri. Củng cố lập trường tư tưởng nhận sinh quan cách mạng của cán bộ đảng viên. Tổ chức học tập cho mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng và nêu cao quyết tâm đánh Mỹ. Nhanh chóng ổn định tổ chức, chấn chỉnh lực lượng, tích cực chống càn quét bảo vệ vùng giải phóng.
Năm 1965, Xã đội do đồng chí Năm Bồn làm Xã đội trưởng, đồng chí Trần Văn Tốt (Tư Nghĩa) làm Xã đội phó, từ năm 1966 đến 1968, các đồng chí Đặng Văn Thông (Tư Thông), Tín (Tín Gấu), Bảy Bắc, Mai Văn Thái (Hai Thái) lần lượt làm Xã đội trưởng. Từ 01/6/1965 tại Mỹ Chánh, không quân Mỹ và pháo binh nguỵ tăng cường bắn phá khu vực rạch Vọp, Hòa Bình, Mỹ Hòa. Có thể nói không ngày nào ngớt tiếng bom đạn. Có ngày đến hàng chục phi vụ, hàng trăm đạn. Tuy địch đánh phá ác liệt, nhưng Đảng bộ lãnh đạo nhân dân bám đất, bám nhà hưởng đàn mỗi nhà làm trảng xẻ đắp bằng đất chung quanh, trên lót ván gỗ, bao trấu... để tránh đạn pháo và nắm quy luật máy bay đội bom, pháo bắn để tránh né. Tình hình chiến tranh ngày càng ác liệt nhưng hầu hết nhân dân đều bám lại quê nhà sản xuất và chiến đấu. Đặc biệt về sinh hoạt văn hóa, hàng đêm thường xuyên sôi nổi hội họp, học tập, tổ chức liên hoan văn nghệ, học bổ túc văn hóa (ấp Hòa Bình).
Tháng 11 năm 1965, địch cho nhiều tốp máy bay phản lực loại C130 phun chất độc hóa học hủy diệt cánh Bắc Ba Tri, riêng ở xã Mỹ Chánh Hòa, vùng ven sông Sau và hữu ngạn sông Ba Lai, cụm lá, rạch Vọp, Châu Bình bị nặng nhất... Lúc đầu, ta chưa có kinh nghiệm, không đo được mối nguy hại khó, mắt cay không thấy sau mấy giờ mới khỏi. Vài ngày sau, cây héo lá rơi gãy lần lần, địa hình bị phá hủy trống trải, kinh tế vùng giải phóng giảm sút. Trước tình hình này, huyện ủy chỉ đạo Đảng bộ vừa phải lãnh đạo tấn công địch, vừa phải sản xuất tự túc, cải tạo địa hình. Trước mắt là trồng dừa nước, làm ruộng, đào mương, đắp đê vừa giải quyết cuộc sống vừa cải tạo địa hình che khuất khắc phục lán địa hình trống trải, nhất là vùng sông Sau tiếp giáp sông Ba Lai nối liền con đường chiến lược từ Tân Xuân, Mỹ Chánh Hòa, Châu Bình, Châu Phú, Phong Nẫm, bảo đảm hành quân đêm và ngày. Cán bộ chiến sĩ, thanh niên và nhân dân bám lại địa hình, cắt chồi che phủ cây lá để ở, tất mương bắt cá để đổi gạo ăn, chịu đựng suốt nhiều năm liền. Đảng viên, du kích Mỹ Chánh bám vào rừng lõm Hòa Bình ra rạch Vọp, cơ quan Huyện ủy đóng ở ven sông Ba Lai.
Năm 1966, Đảng ủy Mỹ Chánh Hòa được thành lập, do đồng chí Nguyễn Văn Đặng (Tám Cảnh) làm Bí thư. Năm 1967, đồng chí Tám Cảnh bị trái nổ hy sinh, đồng chí Trương Văn Côn (Chín Minh) làm quyền Bí thư Đảng bộ đã tổ chức học tập, củng cố nâng cao quan điểm lập trường cho cán bộ đảng viên và nhân dân, nêu cao quyết tâm đánh Mỹ xâm lược. Cuối tháng 04/1966, địch đưa 1 chi đoàn xe M113, 2 tiểu đoàn Trung đoàn 10, Sư đoàn 7 ngụy, 1 đại đội trinh sát, 8 đại đội Bảo an tiểu khu và chi khu cùng với 12 đoàn bình định để tiến hành bình định trọng điểm Ba Tri. Trực tiếp chỉ huy cuộc bình định này có tên Thiếu tướng Trần Thanh Phong đặc trách bình định trung ương, tên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 10 và tên Tỉnh trưởng Bến Tre. Kế hoạch này chia làm 2 bước: bước 1, tháng 4 năm 1966, địch tập trung quân chiếm vùng Ba Mỹ. Bước thứ hai từ tháng 7/1966 đến tháng 2/1967, lần chiếm các xã Tân Xuân, Phú Lễ, Phú Ngãi, Phước Tuy. Sáng ngày 20/04/1966, pháo địch từ Ba Tri, Giồng Trôm và Bình Đại bắn trên 500 quả, 2 phản lực và 4 trực thăng đến oanh kích vào địa hình các xã Mỹ Nhơn, Mỹ Chánh Hòa, Mỹ Thạnh, vùng căn cứ rạch Vọp, Tân Xuân. Sau đợt bom pháo dọn bãi, 4 tiểu đoàn ngụy và 12 xe M113 có trực thăng yểm trợ chia 4 mũi tấn công vào khu vực Ba Mỹ. Lực lượng vũ trang huyện, xã đã đánh trả diệt trên 300 tên, phá hủy 2 xe M113. Chúng sử dụng các loại bom pháo bắn giết nhân dân. Nhưng với lực lượng đông, địch tiếp tục lấn tới, càn quét vùng giải phóng. Trong đợt này, địch dùng chiến thuật đánh nhanh lấn nhanh. Càn quét đến đâu, chúng cắm đồn đến đó, đưa bọn tề lưu vong về lập bộ máy kềm kẹp, thực hiện chính sách lợi dụng tôn giáo, sử dụng những phần tử trong đạo Cao Đài Tây Ninh để chống phá cách mạng. Chỉ ba ngày sau khi chiếm được Ba Mỹ, địch đã tập hợp được 130 thanh niên thành lập Đại đội 995 (còn có tên là đại đội cờ trắng) do tên Nguyễn Tấn Nghiệp chỉ huy, dựng lên một căn cứ đạo tại xã Mỹ Chánh Hòa (hậu cứ 995 đóng tại ấp Xóm Mới, quân số trên 100 tên, phân chi khu lại ấp Gò Da). Thủ đoạn thâm độc của chúng là chia rẽ giữa người có đạo với người không có đạo để tạo cớ gây hận thù sâu hơn. Địch tăng cường bắt lính, xây dựng hệ thống đồn bốt, càn quét, khủng bố nhân dân. Song song đó, địch tiến hành chiến tranh tâm lý, mua chuộc, dụ dỗ, rún ép gia đình cách mạng phải kêu chồng con em rời bỏ hàng ngũ kháng chiến, chiêu hồi và cảm hóa nhân dân tiếp theo cách mạng. Huyện ủy chủ trương chọn một số đồng chí có khả năng bám trụ tại xã, những đồng chí nào có sức khỏe yếu đi điều dưỡng, cán bộ bám trụ phải bám vô dân, nơi nào không có điều kiện thì bám vào vùng ven, thực hiện khẩu hiệu “công nông binh liên hiệp”, đẩy mạnh công tác binh vận, đánh thối lực lượng đàn áp thô bạo của các cuộc hành quân, tranh thủ bảo vệ khí chiến tranh, để nhân dân khỏi bị cô lập, chi viện mạnh mẽ, tài hỗ trợ cho quần chúng đấu tranh bằng ba mũi, gỡ đồn bốt, làm thất bại âm mưu bình định của địch.
Ngay trong những ngày đầu địch lấn chiếm, lực lượng ta vẫn bám trụ địa bàn đánh trả các cuộc càn quét của địch. Du kích xã phối hợp với bộ đội địa phương quân huyện phản tấn mòng chống càn, phục kích đánh địch trên đường giao thông, ban đêm, tập kích vào các vị trí đóng quân của địch. Ta đã tổ chức 50 trận đánh lớn nhỏ, diệt 50 tên, kiềm chân, hạn chế lấn chiếm của địch. Du kích xã được tăng cường 1 đại đội địa phương quân, 1 tiểu đội đặc công chặn đánh tiêu diệt 1 xe M113 của địch tại lộ Đình, ấp Hòa Bình, diệt 1 xe tuyên truyền của bọn bình định ở ấp Cây Dầu, diệt 4 tên. Đồng chí Tư Thông đã tổ chức trận đánh tại Cầu Vĩ chặn đoàn ghe của địch vận chuyển vật liệu về xây dựng đồn, ta thu 2 ghe. Địch cho pháo bắn ác liệt vào trận địa để giải toả, lực lượng ta bám giữ trận địa suốt 3 ngày đêm rồi rút ra vùng căn cứ. Tuy nhiên do tương quan lực lượng của ta yếu hơn dịch về số lượng vũ khí trang bị, địch lần lượt chiếm gần hết vùng giải phóng của ta.
Địch đã gây ra những cuộc tàn sát đẫm máu ở Mỹ Chánh Hoà. Ngày 10 tháng 9 năm 1966, pháo của địch bắn vào khu Cao Đài Tây Ninh ở Mỹ Chánh làm chết 8 người bị thương 13 người, thiêu huỷ nhiều nhà cửa. Ngày 21 tháng 9 năm 1967, máy bay trực thăng địch bắn vào đồng bào làm cỏ ở bưng Một mắm, Cầu Vĩ làm chết 12 người, bị thương 1 người. Ngày 19 tháng 10 năm 1967, máy bay trực thăng của địch đã bắn vào đồng bào đi làm cỏ ở Bò Bàu, Hoà Bình, Mỹ Hoà, làm chết 7 người. Đại đội 885 biệt kích ở Cầu Hoà Bình càn 6 chiến sĩ xã đội bị 885 biệt kích chi ở Cầu Vĩ (Mỹ Chánh) và An Ngãi Trung. Chúng sử dụng 6 binh sĩ biệt kích len lỏi vào vùng giải phóng, bắn giết cán bộ và nhân dân. Vành đai của vùng giải phóng Ba Tri từ rừng Năm Trầm ra đến ấp II (rạch Vọp), chạy xuống kinh Ông Cải, cù lao Lá, một phần của Bình Khương (xóm Bưởc). Từ cầu Thầy Thông đến Mỹ Chánh là vùng trắng. Nếu cán bộ, chiến sĩ chi bám trụ ở căn cứ thì không thể nào vận động và tổ chức quần chúng được, nhưng khi bám trụ vùng yếu rất khó khăn, vì địa hình trống trải, cách xa vùng giải phóng, từ vùng căn cứ đi vào vùng yếu Mỹ Chánh nếu đi chậm khi trở ra căn cứ thì trời sáng, dễ bị địch phát hiện, bị thương vong. Ban đêm, cán bộ chiến sĩ vào vùng yếu, rồi nhanh chóng né tránh ở các địa trạm bầu hoặc được dân che giấu, các đêm sau sẽ ra công tác. Các gia đình cơ sở như ông Lê Văn Ngan, Năm Thành (Hoà Bình), bà Hồ Thị Sảnh (Cầu Vĩ), bà Lê Thị Thiều, bà Nguyễn Thị Chiều (Gò Chùa), ông Nguyễn Văn Phèn, Phan Văn Bi, Nguyễn Văn Danh, ông Hai Thế, ông Cát (Bờ Bàu), Phan Văn Liếc (Tám Liếc), mẹ Năm Khurng (ấp Cây Dầu), ông Tư Chất… đã nuôi chứa cán bộ, chiến sĩ hoặc báo cáo tình hình địch cho lực lượng ta biết để có kế hoạch đối phó. Ông Tư Một chỉ có một tay đã nhiều lần chèo ghe đưa rước cán bộ chiến sĩ từ vùng giải phóng ra vùng địch kiểm soát. Chị Huỳnh Thị Khéo ở ấp Cây Dầu làm hộ sinh đã gói thuốc men cho ta. Nói sao hết được tinh nghĩa nhân dân đối với Đảng. Từ sự che chở, đùm bọc của nhân dân, lực lượng ta có điều kiện bám được vùng tranh chấp, vùng kìm kẹp của địch.
Trong những năm địch bình định trọng điểm, các đồng chí trong xã đội Mỹ Chánh Hòa lần lượt hy sinh như: đồng chí Tám, đồng chí Bảy Bắc, đồng chí Đặng Văn Thông... Nhiều tấm gương cán bộ chiến sĩ trung kiên bảo vệ Đảng, bảo vệ cách mạng đã xuất hiện. Đồng chí Lê Văn Bụr (Chi ủy viên) bị giặc bắn chết khi đang giao giấu dưới địa, địch dẫn ra khảo có sở cách mạng và vì không khống được, chúng bắn chết đồng chí Bụr. Đồng chí Nguyễn Văn Thường (bí thư Ban Trung) xây dựng cơ sở ấp Cây Dầu bị giặc phát hiện bắn chết, xác bị địch chở bỏ vô bưng. Đồng chí xe giấy tờ, tài liệu để không rơi vào tay giặc. Địch bắn chết đồng chí. Lực lượng vũ trang ta đã tiêu diệt đồn Bờ Bàu, đồn Mỹ Hòa, Bến Nò, bọn lính hậu cứ 995 đóng ở Xóm chòi không dám ra khỏi đồn. Năm 1967, ngoài việc đánh phá, địch tăng cường chiến tranh tâm lý, chiêu hồi, dụ hàng, chúng chia địa xát lại, hành quân càn quét, lấn chiếm, đóng đồn tua dày đặc từ lộ đá đến đồn hậu cứ 995, đồn Cầu Mỹ Quý, rừng ven đến Bến Nò, đồn Kinh ông Cai, kinh cống Đá, kinh Ba Thước Năm đến gò Bắp, đồn Hòa Bình, đồn Mỹ Hòa, Gò Da, Bờ Bàu, đồn Cây Dầu. Lúc này, tình thế ở trong xã rất khó khăn, lực lượng ta phải ẩn ở hoặc đóng xen kẽ với đồn bốt của địch, cách đồn bốt không đầy 500 mét.
Tháng 12/1967, Bộ Chính trị họp ra Nghị quyết về Tổng công kích tổng khởi nghĩa. Tiếp đó, Tỉnh ủy Bến Tre đã chỉ đạo cho các huyện, xã, đơn vị trong lực lượng vũ trang chuẩn bị mọi mặt cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.
Quán triệt sự chỉ đạo của trên, chi bộ do đồng chí Nguyễn Văn Lại (Năm Lại) làm Bí thư và Ban chỉ huy quân sự xã đã động viên thanh niên tình nguyện gia nhập lực lượng vũ trang, đi dân công phục vụ chiến trường, củng cố lại đội du kích (đội du kích xã có 2 tiểu đội, 5 đội du kích ấp). Bước vào đợt tấn công xuân Mậu Thân 1968, 1 tiểu đội đặc công đánh tiêu hao 1 tiểu đội địch tại chợ Bến Bàu. Địa phương quân huyện do đồng chí Tư Trang chỉ huy phục kích tại Gò Da, diệt 1 tiểu đội thuộc Đại đội 995, thu 5 súng (trong đó có 1 trung liên). Đêm mùng 1 rạng mùng 2 Tết Mậu Thân, du kích xã đứng chân tại trung tâm xã bao vây các đồn bốt của địch. Địch phản kích, cho quân đánh bọc ra, bắn chết đồng chí Mai Văn Thái. Nhận thấy khả năng bức rút đồn bốt không được, đến trưa, lực lượng ta rút khỏi trung tâm xã.
Sau khi đồng chí Thái hy sinh, các đồng chí Năm Bồn, Hai Chức, Hai Sĩ, Lê Quang Tăng lần lượt làm Xã đội trưởng, đồng chí Chọn làm Xã đội phó.
Cuộc tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân của quân và dân Bến Tre góp phần giáng một đòn mạnh vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng xuống thang chiến tranh tuyến bố chấm dứt chiến tranh phá hoại bằng không quân ở miền Bắc, ngồi vào bàn đàm phán với đại diện nước ta tại Pari.





Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn