cựu chiến binh Nguyễn Văn Đức

Tháng 2/1975, nhận được lệnh của Quân ủy Trung ương về chuẩn bị cuộc tổng tiến công và nổi dậy giải phóng miền Nam, đơn vị ông hành quân từ miền Bắc sang Lào để tiến vào miền Nam. Sau 2 tháng ròng rã, ngày 4/1975, đơn vị ông vào đến Bình Long, Sông Bé (tỉnh Bình Dương, Bình Phước ngày nay). Mốc thời gian này rất đáng nhớ đối với ông bởi đó là ngày ông được giao nhiệm vụ làm tiểu đội trưởng. Tiểu đội của ông có nhiệm vụ đóng quân, giữ tại 2 mố chân cầu Sáng.
Ông kể: Tại các mặt trận đó, quân địch nã pháo chống trả liên hồi, đồng thời máy bay chúng mù mịt trên trời và ở tầm thấp, xả súng cày xới mặt đất suốt ngày đêm. Nhưng nhờ ngụy trang khéo léo, kỷ luật hành quân nghiêm ngặt nên đơn vị ít thương vong. Vừa tiến quân, đơn vị vừa dùng pháo bắn đuổi, bắn dồn khiến địch lui dần, co cụm lại, quân ta thừa thắng xông lên.
Theo lời kể của ông, đêm 28/4, rạng sáng 29/4/1975, các đơn vị bộ binh và hỏa lực của Sư đoàn 10 đã hiệp đồng bí mật chiếm đóng cầu Bông, cầu Sáng, cửa ngõ vào Sài Gòn theo hướng Tây Bắc. Đêm 29/4, các mũi tiến công của sư đoàn thọc sâu, tiến sát khu vực sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng tham mưu ngụy. Sáng sớm ngày 30/4/1975, toàn bộ các trận địa pháo của Quân đoàn 3 đồng loạt bắn vào 2 cứ điểm này, làm nhiều máy bay và kho bom đạn của địch nổ tung.
Thế đánh của quân ta khi ấy như chẻ tre, đúng theo mệnh lệnh “thần tốc, táo bạo” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Bộ binh địch hoảng sợ bỏ chạy tán loạn hoặc hạ vũ khí đầu hàng, đến trưa cùng ngày, quân ta đã chiếm trọn 2 cứ điểm này. “Nhìn lá cờ quyết thắng của quân đội ta được kéo lên đỉnh cột cờ cao vút ở sân bay Tân Sơn Nhất, tung bay trong nắng, hình ảnh đó rất thiêng liêng, vui sướng”.
Sau đó, ông trở về quê hương, một số đồng đội của ông đã hi sinh và nằm lại nơi đó. Ông đã khóc khi kể câu chuyện với chúng tôi. Tất cả chúng tôi lặng đi khi được nghe câu chuyện của ông và những đồng đội.



