Cựu chiến binh Nguyễn Văn Thịnh – người lính giữ lửa ký ức
Cựu chiến binh Nguyễn Văn Thịnh sinh năm 1953, quê ở vùng quê thuần nông huyện Hương Khê, Hà Tĩnh. Cuối năm 1972, khi mới tròn 19 tuổi, ông được điều động vào Trung đội 3, Đại đội 4, Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 141, Sư đoàn 7, Quân đoàn 4. Vừa bước chân vào chiến trường miền Đông Nam Bộ – đúng thời điểm chiến sự diễn biến ác liệt – ông cùng đơn vị nhận nhiệm vụ chốt giữ khu vực rừng Lò Gò, giáp biên giới.
Cựu chiến binh Nguyễn Văn Thịnh sinh năm 1953, quê ở vùng quê thuần nông huyện Hương Khê, Hà Tĩnh. Cuối năm 1972, khi mới tròn 19 tuổi, ông được điều động vào Trung đội 3, Đại đội 4, Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 141, Sư đoàn 7, Quân đoàn 4. Vừa bước chân vào chiến trường miền Đông Nam Bộ – đúng thời điểm chiến sự diễn biến ác liệt – ông cùng đơn vị nhận nhiệm vụ chốt giữ khu vực rừng Lò Gò, giáp biên giới.
Ông Thịnh kể, những ngày đầu hành quân vào rừng, nắng cháy hòa với mùi thuốc súng, mùi đất ẩm và cái mùi ngai ngái của lá khô mục. Quần áo Tô Châu mặc được một tuần là đổi màu, bết bùn và rách xơ cả gấu quần. Hầm trú ẩn là nơi họ ăn, ngủ, chiến đấu suốt nhiều tháng. “Hồi ấy pháo địch bắn như cơm bữa, đúng giờ như đồng hồ. Có khi đang ăn phải vứt bát chạy xuống hầm, từng đợt đất đá trút xuống như muốn chôn sống cả trung đội”, ông nhớ lại.
Trong ký ức của ông, trận đánh khiến ông ám ảnh nhất diễn ra vào tháng 3-1974 tại suối Ông Hòa (Tây Ninh). Đơn vị được giao nhiệm vụ đánh mở cửa một cụm chốt có công sự kiên cố. Để tránh lộ tiếng động, cả tổ công binh phải dùng kìm bấm dây thép gai trong im lặng, vừa cắt vừa áp sát mặt đất để tránh hỏa lực từ các lô cốt. “Cả đêm gần như bò. Nhiều đoạn dây gai cứa vào tay chảy máu, nhưng không ai được kêu nửa tiếng. Tới gần sáng mới mở được một hành lang nhỏ để bộ binh xung phong”, ông kể.
Trận đánh ấy, đơn vị ông thắng, nhưng cái giá để lại là quá lớn. Ông nhớ như in người đồng đội tên Lẫm, quê ở Quảng Trị, được giao mang thuốc nổ đánh tung ụ súng. Khi vừa lao lên, Lẫm bị trúng đạn và gục xuống, nhưng vẫn ôm chặt khối bộc phá, thì thào: “Chưa nổ thì chưa lùi…”. Lẫm hy sinh ngay sau đó. Ông Thịnh nói, đã gần nửa thế kỷ trôi qua nhưng ông vẫn không quên được ánh mắt trong khoảnh khắc ấy – ánh mắt của người lính biết mình khó qua khỏi nhưng vẫn nghĩ cho nhiệm vụ trước tiên.
Ngày 29-4-1975, đơn vị ông tiến quân từ hướng Dầu Giây về Sài Gòn. Đất rung theo từng tiếng xe tăng, nhưng lòng người lính lại nhẹ như được cởi bao gánh nặng. Suốt quãng đường, hai bên đường dân ùa ra theo từng đoàn, đưa nước, đưa khăn, ôm chầm lấy bộ đội. “Tôi nhìn mà thấy sống mũi cay xè. Bao nhiêu gian khổ, thiếu thốn, bao nhiêu đồng đội ngã xuống… cuối cùng cũng đến ngày đất nước hòa bình”, ông nghẹn lại. Trưa 30-4, ông Thịnh cùng đơn vị tiến vào nội đô, đến khu vực cầu Công Lý. Những chiếc xe jeep của chính quyền Sài Gòn vỡ kính nằm la liệt, mũ sắt rơi đầy bên đường. Không còn tiếng súng, không còn tiếng pháo, chỉ còn tiếng reo mừng của người dân và hơi thở dồn dập của những người lính vừa trải qua chặng đường dài nhất cuộc đời.
Sau ngày giải phóng, ông được phân công tham gia tiếp quản kho đạn ở Thủ Đức, rồi chuyển sang bảo vệ trại giam Suối Máu (Biên Hòa). Đến cuối năm 1978, ông lại tiếp tục lên đường sang Campuchia trong đội hình Sư đoàn 7, làm nhiệm vụ quốc tế giúp nước bạn thoát khỏi nạn diệt chủng. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, ông trở về công tác tại Ban Chính trị Trung đoàn 141 cho đến khi nghỉ hưu năm 2006 với quân hàm Thượng tá
Ngồi trong căn nhà nhỏ ở quê, người lính già ngoài bảy mươi tuổi vẫn nhớ từng khuôn mặt đồng đội, từng trận đánh lẫn những buổi hành quân qua rừng đêm, chân dẫm trên đất ướt và tim đập cùng nhịp với tiếng pháo. “Hòa bình là điều vô giá. Nó không tự nhiên mà có. Nó được đổi bằng xương máu của biết bao người ngã xuống. Các cháu sau này sống yên bình, hãy nhớ điều đó để trân trọng từng ngày đang có”, ông trầm ngâm nói.
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng trong mắt người cựu chiến binh Nguyễn Văn Thịnh, những ký ức ấy vẫn như ngọn lửa âm ỉ, luôn nhắc ông về một thời tuổi trẻ sống hết mình vì Tổ quốc – và về những người đã mãi mãi nằm lại trong những cánh rừng im lặng.


