Cựu chiến binh – Nguyễn Văn Thuần
Từ ngày nhập ngũ đến tháng 5-1954, Nguyễn Văn Thuần chiến đấu trên chiến trường Bắc Bộ ở Tiểu đoàn 16, Trung đoàn 141, Đại đoàn 312. Trưởng thành từ chiến sĩ lên cán bộ tiểu đoàn, Nguyễn Văn Thuần luôn bình tĩnh, mưu trí, linh hoạt.
Giữa tháng 12-1953, Trung đoàn 141 Đại đoàn 312 của Nguyễn Văn Thuần nhận lệnh hành quân lên Tây Bắc tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ. Ngày 17-1-1954, Trung đoàn 165, Đại đoàn 312 đã vượt qua dãy Tà Lèng vào sát Điện Biên Phủ tổ chức phòng ngự và làm công sự cho pháo. Hai Trung đoàn 141 của Nguyễn Văn Thuần và Trung đoàn 209 tham gia kéo pháo. Sau 9 ngày đêm lao động khẩn trương phần lớn các khẩu pháo đã được đưa vào trận địa. Trong khi ta chuẩn bị nổ tiếng súng tấn công thì bỗng nhiên có lệnh của Bộ Chỉ huy chiến dịch: "Tạm ngừng cuộc tấn công, kéo pháo ra". Tình hình chiến trường đã có những diễn biến mới nên chúng ta bỏ phương án: "Đánh nhanh, thắng nhanh" để "Đánh chắc, tiến chắc".
Sau đó, Trung đoàn 141 của Nguyễn Văn Thuần nhận nhiệm vụ làm đường cho pháo cơ động. Làm đường cho xe kéo pháo được tiến hành khẩn trương trong điều kiện không có máy ủi, không được dùng thuốc nổ. Ngay những công cụ thô sơ như búa tạ, choòng cũng không đủ. Rìu để chặt càng không có. Anh em chỉ có những con dao rựa và chiếc xẻng bộ binh đã cũ.
Không có choòng, xà beng, Nguyễn Văn Thuần bảo anh em chặt gỗ cứng làm xà beng, không được dùng thuốc nổ, anh nói chiến sĩ kiên nhẫn theo thớ đá đục dần. Không có cưa, anh bảo mọi người bới gốc cây, chặt dần từng rễ rồi hạ cây bằng dao rựa.
Đào hầm cho pháo 105mm cồng kềnh đồ sộ đòi hỏi khá nhiều công sức. Trận địa pháo phải đảm bảo vừa bắn tốt vừa an toàn. Mỗi hầm pháo phải bảo đảm đào sâu vào vách núi phải từ 200m³ đến 300m³ đất đá. Gỗ cho hầm hào phải có đường kính từ 30cm trở lên. Nắp hầm phải dày trên 3m, gồm nhiều lớp đất xen với gỗ và những bó trúc, bảo đảm có thể chịu được bom tạ. Những công việc vất vả nặng nhọc đó Tiểu đoàn 16 của Nguyễn Văn Thuần đều thực hiện hoàn hảo.
Đồng thời với việc xây dựng công sự trận địa, việc chuẩn bị đánh cứ điểm Him Lam cũng được tiến hành khẩn trương. Đại đoàn 312 quyết định sử dụng Trung đoàn 141 và Trung đoàn 209 tiến công trên hướng chủ yếu.
17 giờ 5 phút 13-3-1954, chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ bắt đầu! Mở đầu chiến dịch ta tiến công cứ điểm Him Lam. Cuộc chiến đấu ở đây diễn ra vô cùng quyết liệt. 23 giờ 30 phút Đại đoàn 312 hoàn toàn làm chủ căn cứ Him Lam. Vòng vây của ta khép dần. Các đơn vị của Trung đoàn 141 tham gia đào hào khép chặt vòng vây. Phó tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Thuần có sáng kiến đào ngầm dưới lòng đất khiến địch bất ngờ...
Đêm 6-5-1954, Tiểu đoàn 130, Trung đoàn 209 đột phá cứ điểm 507, cùng lúc với tiếng nổ của khối bộc phá lớn phía đơn vị đánh chiếm phần còn lại của cứ điểm đồi A1. Cuộc chiến đấu ở cứ điểm 507 diễn ra quyết liệt. Sau 56 ngày đêm chiến đấu vô cùng anh dũng, quân và dân ta đã tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp của dân tộc Việt Nam.
Với những chiến công của mình, đồng chí Nguyễn Văn Thuần được tặng thưởng 2 huân chương Chiến công hạng Nhất, 1 huân chương Chiến công hạng Ba, 11 lần được tiểu đoàn, Trung đoàn, Đại đoàn khen thưởng. Ngày 31-8-1955, được Chủ tịch nước tặng Huân chương Quân công hạng Ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Qua câu chuyện điều làm em ấn tượng nhất chính là tinh thần bền bỉ, không ngại gian khổ của bác Thuần. Trong điều kiện thiếu thốn quân nhu, dụng cụ thô sơ (chỉ có dao rựa, xẻng cũ, không có máy ủi hay thuốc nổ), bác đã cùng đồng đội thực hiện những công việc tưởng chừng như không thể: đào hàng trăm mét khối đất đá, hạ cây cổ thụ bằng dao rựa để làm hầm pháo kiên cố. Đó là minh chứng cho câu nói "bàn tay ta làm nên tất cả", một ý chí sắt đá có thể dời non lấp biển.
Bác Nguyễn Văn Thuần không chỉ là một chiến sĩ dũng cảm mà còn là một cán bộ mưu trí, linh hoạt. Sáng kiến đào hầm ngầm dưới lòng đất để tiếp cận và gây bất ngờ cho quân địch tại cứ điểm Him Lam cho thấy tầm vóc của một người chỉ huy biết dùng trí óc để giảm thiểu xương máu cho đồng đội mà vẫn đạt được hiệu quả chiến đấu cao nhất.
Bác là đại diện tiêu biểu cho thế hệ "hoa lửa" – những người đã dành trọn tuổi thanh xuân, sống và chiến đấu vì độc lập dân tộc. Việc bác trưởng thành từ một chiến sĩ lên cán bộ tiểu đoàn, nhận được nhiều huân chương cao quý và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân là sự ghi nhận xứng đáng cho một cuộc đời tận hiến.
Đọc câu chuyện của bác, em cảm thấy mình cần phải có trách nhiệm hơn với cuộc sống hòa bình hiện tại. Sự kiên nhẫn "theo thớ đá đục dần" hay sự điềm tĩnh trước mọi tình huống khó khăn của bác là bài học quý giá cho em trong học tập và rèn luyện.
Tóm lại : Anh hùng Nguyễn Văn Thuần trong tâm trí em là một biểu tượng của lòng yêu nước nồng nàn, sự sáng tạo và ý chí thép. Câu chuyện của bác nhắc nhở em rằng: Không có khó khăn nào là không thể vượt qua nếu ta có quyết tâm và lòng quả cảm.
Em cảm thấy rất tự hào khi được biết đến một người con ưu tú của quê hương Quảng Ninh và một tấm gương sáng của quân đội nhân dân Việt Nam.
Để xứng đáng với công lao của cha ông đã dày công bảo vệ đất nước, em sẽ cố gắng học giỏi góp phần xây dựng quê hương Việt Nam ngày càng tươi đẹp văn minh giàu mạnh như ngày hôm nay.


