Cựu chiến binh

Cựu chiến binh Nguyễn Văn Trung

Người lính trở về từ địa ngục của nạn diệt chủng Campuchia

Thanh Hóa23/02/2026Nguyễn Minh Nhuệ (Đoàn Trường Hậu Lộc 4)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

NGƯỜI LÍNH TRỞ VỀ TỪ BIÊN GIỚI SINH TỬ

Có những con người bước ra từ chiến tranh không mang theo hào quang ồn ào, nhưng cả cuộc đời họ là một bản anh hùng ca thầm lặng. Trong dòng chảy bình yên của hôm nay, khi tiếng súng đã lùi xa vào ký ức, câu chuyện về một người cựu chiến binh từng chiến đấu nơi biên giới Tây Nam vẫn âm thầm nhắc nhở chúng ta về cái giá của hòa bình – đắt hơn bất cứ điều gì có thể đo đếm.

Hôm nay , tôi may mắn được gặp gỡ và trò chuyện cùng ông Nguyễn Văn Trung - một cựu chiến binh trở về từ chiến trường biên giới Campuchia. Ông sinh năm 1957 , nhập ngũ tháng 4 năm 1978 , xuất ngũ năm 1983 . Tính đến nay , đã hơn 40 năm từ những ngày xa xôi ấy , nhưng ông kể rất chi tiết , tỉ mỉ . Ông kể với giọng văn hoài niệm cổ kính, lại pha chút nuối tiếc những ngày trẻ rực rỡ nhưng tất cả đều đc kể với nét mặt đầy tự hào - tự hào về một thời mà theo ông nói " ông là lính Việt Nam ".

Sinh ra trong một thời đại mà Tổ quốc chưa kịp nghỉ ngơi sau những năm tháng chiến tranh kéo dài, ông nhập ngũ khi tuổi đời còn rất trẻ. Cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam nổ ra, ông cùng đồng đội bước vào những ngày tháng cam go đối mặt với quân Khơme đỏ ,hay còn gọi là quân Pôn Pốt – một lực lượng mang trong mình sự tàn bạo và man rợ, sẵn sàng hủy hoại cả sự sống lẫn nhân tính. Chiến tranh nơi biên giới không chỉ là cuộc đối đầu bằng vũ khí, mà còn là thử thách tận cùng của lòng can đảm và sức chịu đựng của con người.

Những cánh rừng biên giới hoang vu, những con đường hành quân kéo dài tưởng như vô tận đã in dấu bước chân của những người lính trẻ. Có những ngày họ đi bộ hàng chục cây số trong nắng gắt, bùn lầy và đói khát. Lương thực thiếu thốn, nước uống phải chắt chiu từng ngụm, đêm xuống là những giấc ngủ chập chờn giữa rừng sâu. Nhưng khó khăn về vật chất chưa bao giờ là điều khiến họ chùn bước. Điều ám ảnh nhất chính là những mất mát, những chứng kiến về sự tàn khốc của chiến tranh và nỗi đau khi đồng đội không thể cùng nhau trở về.

Khi được hỏi về những kỷ niệm mà ông ám ảnh nhất đến tận bây giờ, ông nghẹn ngào kể :" Quân ất hắn ác lắm, ác lắm . Có lần chính ông nhìn thấy, nó treo ba người thanh niên lên một cái cây to , giữa rừng , nó róc từng miếng thịt, dùng tay trần lột từng cái xương người ta ra. Lột xong nó xếp chồng lên, một đống lớn, toàn xương là xương, trắng hếu, còn dính máu tươi . Thịt người vun vãi khắp mặt đất , máu chảy thành dòng nhuộm đỏ hết cỏ cây. " Rồi giọng ông nghẹn ứ dần vì nỗi kinh hoàng khi nhớ lại,ông bảo rằng nhiều lần trước mắt ông là những "Thân thể thấy mình không thấy đầu" ông lại kể :" Trong rừng có độc một hồ nước sạch, nhưng nó không sạch, cháu ạ. Nó dồn dân bên đó thành từng cụm, từng làng cho dễ quản lý, rồi nó bắt họ phục dịch, làm việc hơn trâu hơn bò hầu hạ nó . Ai mà làm nó phật ý , nó sai lên rừng " chặt củi ". Nhưng ko phải chặt củi thật đâu cháu, nó đưa người đến cái hồ ấy , cứ nhằm vào mấy đợt hạn hán nặng ,nhẹ thì nó cắt cổ người ta, ném xác xuống hồ. Trẻ con thì nó xé , dùng tay không mà xé . Người lớn thì nó nắm đầu đập cho chết tươi mới thôi. Một cái hồ to như vậy, không ai dám đến gần, vì toàn xác là xác . Nước hồ đen đặc sánh lại vì máu , mùi hôi thối lan ra tận quân khu sư đoàn ông đóng quân ." Bác kể với giọng điệu hãi hùng đến run rẩy , khiến tôi như thực sự chứng kiến cảnh thảm khốc ấy, như ngửi được cái mùi rờn rợn kinh hoàng ấy . Nhưng đến khi bác kể về chính mình, tôi thực sự nghẹn ngào . Rồi ông kể : vào khoảng tháng 8 năm 1979 khi sư đoàn ông di chuyển đến gần biên giới tỉnh An Giang, trong một địa thế hiểm trở, hai mặt là núi vây và trước mắt chỉ có một đường thoát . Nó vây kín lại 3 phía , chỉ còn một lối thoát duy nhất . Ông mới xúi dại đồng đội " này, bắn gì thì bắn, nhớ chừa lại cho tao một quả lựu đạn với vài viên súng trong AK ". Ông kể với giọng hơi cao ,xen chút đùa nghịch tuổi trẻ ,nhưng mắt tôi bỗng cay xè, lòng nghẹn ngào đến như khó thở mà không phát ra nổi một âm thanh. Ông và những người đồng đội của ông đã sống trong cái thời mà cái chết không còn đáng sợ. Họ sợ chính là sự tàn bạo của bọn KHmer đỏ, sợ những hình thức tra tấn kinh khủng mà họ tận mắt chứng kiến . Để đến nỗi nếu bị giặt bắt đc thì cái chết là sự lựa chọn tốt nhất cho họ.

Giữa những tháng ngày tưởng như chỉ có khói lửa và hiểm nguy, vẫn le lói những khoảnh khắc rất đỗi con người. Đó là những đêm giao thừa nơi đất khách, khi tiếng súng tạm lắng, các chiến sĩ trẻ cùng nhau quây quần bên ánh lửa nhỏ, hát vài câu ca quen thuộc để nhớ về quê nhà. Có khi là một buổi văn nghệ giản dị giữa doanh trại, nơi những bài hát về Tổ quốc, về mẹ, về người yêu nơi hậu phương vang lên giữa rừng biên giới. Những khoảnh khắc ấy không xua tan được chiến tranh, nhưng đủ để giữ cho trái tim người lính không hóa đá giữa bom đạn.

Không chỉ gắn bó với đồng đội, người lính còn dành tình cảm sâu nặng cho nhân dân nơi họ đi qua. Trong gian khó, họ chia nhau từng bát cơm, từng ngụm nước, cùng người dân dựng lại mái nhà sau đổ nát, cùng bảo vệ sự sống mong manh giữa cơn bão chiến tranh. Khi được hỏi rằng ông có còn nhớ bài hát nào mà hồi ấy ông thuộc cho tới tận bây giờ không, ông nở một nụ cười rạng rỡ trên khuôn mặt đã hằn rõ nếp nhăn và đọc rành mạch từng câu ca một, đọc được khoảng 4 tới 5 câu thì ông ngượng ngùng nói rằng mình chỉ nhớ được đến đó . Bài ca mang chủ đề chính là sự gắn bó chặt chẽ giữa quân và dân ta . Chính tình đồng bào giữa quân và dân đã tiếp thêm sức mạnh để những người lính trẻ ấy vững vàng vượt qua những ngày tháng khắc nghiệt nhất.

Khi hoàn thành nhiệm vụ và rời quân ngũ, ông trở về quê hương, mang theo những ký ức không dễ gọi tên. Chiến tranh đã lùi lại phía sau, nhưng dấu ấn của nó vẫn ở lại trong từng suy nghĩ, từng bước đi. Ông chọn cho mình một công việc lặng lẽ: trở thành người bảo vệ của một ngôi trường cấp hai nơi quê nhà. Tròn hai mươi năm gắn bó với cổng trường, ông âm thầm dõi theo từng thế hệ học sinh lớn lên mỗi ngày.

Với ông, đó không chỉ là một công việc mưu sinh. Đó là cách ông tiếp tục cống hiến, tiếp tục “canh giữ” tương lai của đất nước theo một cách rất khác. Mỗi buổi sáng nhìn các em học sinh tung tăng đến lớp, mỗi chiều thấy những gương mặt non trẻ rời trường trong tiếng cười, ông như nhìn thấy một Việt Nam bình yên mà thế hệ mình đã đánh đổi bằng cả tuổi xuân để giữ gìn. Ông yêu thương các em không bằng lời nói lớn lao, mà bằng sự kiên nhẫn, trách nhiệm và ánh mắt dõi theo đầy tin tưởng.

Câu chuyện đời ông không được viết bằng những chiến công rực rỡ, mà bằng sự bền bỉ, nhân hậu và thủy chung với Tổ quốc. Từ chiến trường biên giới Tây Nam đến cổng trường làng quê, ông luôn chọn đứng ở nơi thầm lặng nhất để bảo vệ những điều quý giá nhất.

Đối với thế hệ trẻ hôm nay, câu chuyện của người cựu chiến binh ấy là một lời nhắc nhở sâu sắc: hòa bình không phải món quà ngẫu nhiên, mà là kết quả của sự hy sinh của biết bao con người đi trước. Trách nhiệm của thanh niên Việt Nam không chỉ là ghi nhớ quá khứ, mà là sống xứng đáng với quá khứ ấy – bằng việc học tập nghiêm túc, sống nhân ái, có lý tưởng và biết đặt lợi ích của đất nước lên trên lợi ích cá nhân.

Người lính năm xưa đã đi qua chiến tranh để giữ gìn Tổ quốc. Người bảo vệ hôm nay đứng nơi cổng trường để giữ gìn tương lai. Giữa hai vai trò ấy, có một sợi chỉ đỏ không bao giờ đứt: lòng yêu nước lặng thầm nhưng bền bỉ. Và đó chính là bài học lớn nhất mà ông để lại cho các thế hệ mai sau – sống xứng đáng, sống biết ơn và không bao giờ quên.

(Đoàn viên thanh niên trường THPT Hậu Lộc 4 chụp hình cùng cựu chiến binh)

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn