cựu chiến binh Phạm Thị Xuân, 74 tuổi
Cựu chiến binh Phạm Thị Xuân người nữ chiến sĩ thông tin năm nào đã không thể vào chiến trường miền Nam nhưng bằng tất cả nhiệt huyết của tuổi trẻ, bà đã cống hiến trọn vẹn cho công tác hậu phương, chăm sóc thương binh và lan tỏa nghĩa tình đồng đội suốt nửa thế kỷ qua. Sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước, tháng 8 năm 1974, khi đất nước đang trong giai đoạn ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bà Phạm Thị Xuân một cô gái trẻ vừa tốt nghiệp trường trung cấp sư phạm đã đăng ký nhập ngũ theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, dù cha mẹ hết lòng can ngăn. Bà tâm sự: “Khi ấy, bố mẹ tôi can ngăn nhiều lắm nhưng tôi vẫn quyết đi bởi khi địch còn bắn phá thì có hòa bình được không? Khi miền Nam chưa giải phóng thì hòa bình được không?” những lời tâm can ấy đã khiến gia đình cảm động và đồng ý để bà lên đường. Ban đầu, bà được biên chế vào Đoàn 581 thuộc Quân khu 3, hoạt động tại tỉnh Hà Nam Ninh (cũ), với khát khao mãnh liệt được vào chiến trường miền Nam làm công tác thông tin. Thế nhưng, ý định ấy không thể thực hiện, bà được điều động ở lại làm nhiệm vụ hỗ trợ chăm sóc thương binh từ chiến trường miền Nam chuyển ra. Lúc đó, bà được các đồng chí động viên rằng cả hai chiến trường đều quan trọng như nhau, bởi với những người chiến sĩ đã chiến đấu, hy sinh một phần xương máu, đang mang trên mình những vết thương đau đớn, viên đạn còn chưa lấy ra khỏi cơ thể, thì việc chăm sóc họ cũng giống như chiến đấu trên chiến trường nhiệm vụ nào cũng vinh quang như nhau. Hiểu được điều đó, cô gái trẻ ấy đã an tâm ở lại, làm công tác thông tin, tuyên truyền và phục vụ các thương binh với tất cả lòng nhiệt thành và tinh thần trách nhiệm cao nhất. Bà nhớ lại những ngày tháng ấy, người ta thường thấy cô chiến sĩ thông tin một vai đeo cuộn dây đồng, bên còn lại là hộp máy quay, đạp xe hàng chục cây số từ trạm an dưỡng này sang trạm an dưỡng khác, không để việc kết nối liên lạc bị đứt đoạn. Cũng chính cô chiến sĩ hoạt bát ấy thường xuyên cùng đồng đội kể chuyện cho thương binh nghe về những trận đánh lịch sử, những tấm gương anh hùng, những câu chuyện đời thường và những tin chiến thắng từ miền Nam để giúp họ vơi bớt nỗi đau thể xác và vững tin hơn vào ngày mai. Những nỗ lực ấy đã được ghi nhận, bà được công nhận là Chiến sĩ thi đua quyết thắng một phần thưởng xứng đáng cho tấm lòng và sự cống hiến thầm lặng của người lính hậu phương.
Không chỉ làm công tác chăm sóc, bà Xuân còn có cơ hội được lắng nghe trực tiếp những câu chuyện bi hùng từ chính các thương binh những người đã trở về từ chiến trường khốc liệt. Có câu chuyện về gia đình anh thương binh quê Quảng Trị, khi cả bốn người thân đều vĩnh viễn nằm lại chiến trường, chỉ còn mỗi anh sống sót trở về trong đau thương và mất mát. Có câu chuyện về một người anh quen biết, chàng thanh niên tuổi đời vừa tròn 28, đã trở thành anh hùng và mãi mãi ở lại với mảnh đất miền Nam thân thương. Những lời kể ấy đã in sâu vào tâm trí bà, khiến bà cảm nhận được sự khốc liệt của chiến tranh một cách thấm thía. Bà tâm sự: “Lúc nghe những câu chuyện đó, cảm nhận được những mất mát to lớn, thì với tôi, không khao khát nào lớn hơn khao khát hòa bình, miền Nam được giải phóng, Bắc Nam sum họp một nhà”. Và rồi ngày mong chờ ấy cũng đến. Bà nhớ như in ngày 30 tháng 4 năm 1975, tất cả người dân tập trung dưới những tán cây để nghe ngóng tin tức từ đài phát thanh. Đơn vị bà đóng quân ở nhà dân nên cũng cảm nhận được không khí đang dâng trào khắp phố phường. Ngay khoảnh khắc xe tăng của ta húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập, niềm vui giải phóng đã vỡ oà với những nụ cười và giọt nước mắt hạnh phúc, nhưng xen lẫn đó cũng là niềm bùi ngùi thương nhớ Bác Hồ vĩ đại người đã không còn có mặt để chứng kiến giấc mơ thống nhất đất nước thành hiện thực. Hòa bình đã đến, đẹp đẽ và thiêng liêng biết bao, nhưng phía sau niềm vui ấy là vô vàn những hy sinh mà bà luôn khắc ghi trong trái tim.
Sau chiến tranh, năm 1977, bà phục viên với niềm tiếc nuối vì không thể học lên sĩ quan do căn bệnh tim, nhưng tinh thần phụng sự Tổ quốc và lòng yêu thương con người chưa bao giờ vơi cạn trong bà. Năm 1982, bà theo chồng vào Tây Ninh lập nghiệp, bắt đầu công việc quản lý giáo dục rồi trở thành giáo viên tại Trường Tiểu học Kim Đồng, thành phố Tây Ninh. Có lẽ, xuất phát từ những ngày tháng chăm sóc thương binh, từ những câu chuyện đẫm nước mắt mà bà đã lắng nghe, bà thấm thía hơn ai hết nỗi đau mà chiến tranh để lại, và bà luôn tự nhủ rằng mình may mắn còn sống, còn được nhìn thấy hòa bình, vì vậy bà phải làm những điều có ý nghĩa để sưởi ấm cuộc đời cho những mảnh đời bất hạnh. Nghỉ hưu, bà tham gia công tác xã hội sôi nổi, được nhiều người biết đến với vai trò vận động thiện nguyện, trao hàng trăm suất quà mỗi năm cho các gia đình khó khăn, cựu chiến binh neo đơn và những người có hoàn cảnh đặc biệt. Nhưng có lẽ lớp học tình thương mà bà duy trì suốt hơn chục năm qua dành cho trẻ em bị tự kỷ mới là hành trình đầy tâm huyết và kiên trì nhất, bởi với bà, trẻ em những mầm non của đất nước xứng đáng được yêu thương và nuôi dạy để trở thành những công dân có ích, giống như lớp thế hệ đã hy sinh cho độc lập hôm nay. Mỗi dịp Tết đến, bà lại cùng các đồng đội cũ đóng góp tặng quà cho những cựu chiến binh có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn phường, như một cách để gửi lòng trân trọng và biết ơn sâu sắc nhất, với mong muốn không ai bị bỏ lại phía sau. Những việc làm ý nghĩa ấy đã được UBND tỉnh Tây Ninh ghi nhận, bà đã 5 lần vinh dự nhận bằng khen của tỉnh – sự ghi nhận xứng đáng cho một tấm lòng nhân ái không ngừng nghỉ.
Sâu thẳm trong trái tim người cựu chiến binh Phạm Thị Xuân là một triết lý sống giản dị nhưng vô cùng cao đẹp: “Tôi từng là một người lính Cụ Hồ, luôn ghi nhớ lời dạy của Bác, quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ. Những việc làm này như một lời tri ân của tôi đến những chiến sĩ đã ngã xuống. Tôi may mắn còn được nhìn thấy hòa bình nên muốn thay họ làm những việc tốt có ý nghĩa với cuộc sống”. Trong không khí sôi nổi của những ngày cả nước hướng về kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, bà Xuân hạnh phúc khi được ngắm nhìn sự đổi thay của quê hương, được chứng kiến thế hệ trẻ lớn lên trong hòa bình, được sống trong tình yêu thương và sự đoàn kết của dân tộc. Hòa bình hai tiếng giản dị mà thiêng liêng ấy với bà không chỉ là kết quả của những hy sinh xương máu, mà còn là nền tảng để bà tiếp tục hành trình nhân văn của mình, thắp lên những ngọn lửa yêu thương cho những người còn đang trong bóng tối. Mỗi món quà trao tặng, mỗi ánh mắt trẻ thơ trong lớp học tình thương, mỗi cái bắt tay ấm áp với đồng đội già tất cả đều là những nhịp cầu kết nối quá khứ với hiện tại, là sự kế thừa và phát huy truyền thống "uống nước nhớ nguồn" của dân tộc. Dù năm tháng đã làm mái tóc bà bạc đi, sức khỏe có phần giảm sút, nhưng ngọn lửa nhiệt huyết và tình yêu thương con người trong bà vẫn cháy sáng không nguôi, như một minh chứng sống động rằng những người lính Cụ Hồ, dù ở thời chiến hay thời bình, đều mang trong mình một sứ mệnh cao cả: sống đẹp, sống có ích và luôn hướng về cội nguồn, về những người đã khuất, về tương lai tươi sáng của đất nước. Và có lẽ, đó chính là thông điệp mà bà Phạm Thị Xuân muốn gửi gắm đến các thế hệ mai sau: hòa bình thực sự đẹp, nhưng đẹp hơn cả là khi chúng ta biết trân trọng và làm cho nó thêm ý nghĩa bằng những hành động nhân văn xuất phát từ trái tim.



