Cựu chiến binh

CỰU CHIẾN BINH TRONG TRẬN CHIẾN - THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ NĂM 1972

Tôi (Đại tá Đào Văn Phê) nhập ngũ khi đang là công nhân mỏ. Được huấn luyện 2 tháng ở Thái Nguyên, tôi và đồng đội nhận lệnh đi chiến đấu.

Đồng Tháp26/11/2025Võ Ngọc Vi (Trường Đại học Tiền Giang)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tôi (Đại tá Đào Văn Phê) nhập ngũ khi đang là công nhân mỏ. Được huấn luyện 2 tháng ở Thái Nguyên, tôi và đồng đội nhận lệnh đi chiến đấu.

Ngày 24.1.1968, chúng tôi bắt đầu hành quân từ Tuyên Quang đến Thanh Hóa. Đó là những ngày giáp Tết Nguyên đán, chúng tôi được nghỉ 3 ngày ở nhà dân. Nhiều đồng chí ra phố huyện chụp ảnh gửi về cho gia đình làm kỷ niệm. Cá nhân tôi lại nghĩ, đi chiến đấu mà gửi ảnh về cho gia đình là “điềm gở”, nên quyết định không chụp.

Sau Tết, chúng tôi học bắn đạn thật, ném lựu đạn, đánh bộc phá... rồi chuẩn bị lên đường đi B (vào Nam chiến đấu).Chuẩn bị lên đường, tôi được bổ nhiệm lên chức Tiểu đội phó Tiểu đội hỏa lực B40. Quân tư trang chúng tôi cần là 2 bộ quần áo dài, tăng, võng, áo mưa, 1kg muối, 1 bình tông đựng nước, 1 mũ cối, 1 xẻng nhỏ để đào công sự, 1 bao tượng đựng gạo và mỗi đồng chí được phát 2 bánh xà phòng giặt quần áo. Về vũ khí, chúng tôi được cấp 1 khẩu B40, 3 viên đạn để trong hòm sắt. Tôi là tiểu đội phó còn phải mang theo chiếc xoong nấu cơm.Tính ra, mỗi người lính chúng tôi phải mang trên người khoảng 32 - 36kg quân tư trang trên đường hành quân.Từ Thanh Hóa, chúng tôi hành quân đi bộ vào Nam. Ban ngày đi, tối ngủ nhờ nhà dân ven đường, hoặc mắc võng ngủ giữa rừng.Chúng tôi đi xuyên rừng ở tỉnh Nghệ Tĩnh (cũ). Đi mãi, đi mãi mới đến được Quảng Bình (cũ), rồi nhập vào đường giao liên của Đoàn 559.

Khi ở nhà, chúng tôi hình dung đường Trường Sơn là đỉnh núi cao, dài, bốn bề rậm rạp. Đến khi đặt chân lên đường Trường Sơn mới biết đó là một hệ thống giao thông tổng hợp có nhiều đường ngang, dọc, kéo dài hàng ngàn km từ Bắc vào Nam.Tôi và những đồng đội của mình đã đặt chân trên đường mòn của dãy Trường Sơn hùng vĩ. Cứ khoảng 15 - 20 cây số lại có một trạm giao liên, là nơi đón tiếp các đơn vị hành quân từ Bắc vào Nam, đồng thời đón thương binh từ Nam ra Bắc.

Những năm tháng ấy, hành quân theo đường giao liên đông lắm, đoàn ra đoàn vào như mắc cửi. Đoàn thương binh đi ra Bắc, gặp chúng tôi động viên tinh thần: “Chiến trường đang cần các đồng chí lắm”.Giữa những đoàn quân ra trận và đoàn thương binh về Bắc, chúng tôi gọi nhau, hỏi thăm nhau, hô to lên: “Có ai ở Thanh Hóa không”, “có ai ở Hưng Yên không”... Chúng tôi tìm đồng hương, bắt tay động viên nhau, đúng với không khí: “Có buổi vui sao cả nước lên đường”, “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai”.Vất vả, gian lao, vượt núi băng rừng, nhưng chúng tôi rất khí thế. Có rất nhiều giai thoại đã được viết lên ở Trường Sơn. Có những hòn đá mòn đi 20 - 30 phân vì bước chân của bộ đội. Tôi tự hào khi bước chân của mình cũng đã được đặt lên trên những hòn đá, những chặng dốc dựng đứng, những khe núi... cùng biết bao thế hệ đã vượt Trường Sơn những năm tháng ấy.Theo dự kiến ban đầu, Trung đoàn 246 chúng tôi chi viện cho miền Đông Nam Bộ, nhưng tình hình mặt trận B5 (Quảng Trị) diễn biến ngày càng phức tạp, nên đơn vị tôi được lệnh quay lại chiến trường mặt trận Khe Sanh, Quảng Trị vào tháng 6-1968.

Đại tá Đào Văn Phê thăm lại chiến trường xưa, thắp hương tưởng nhớ đồng đội

Năm 1968, chưa có lương khô, chúng tôi ăn gạo rang để chiến đấu. Tháng 6.1968, chúng tôi được giao nhiệm vụ tiêu diệt địch trên cao điểm 689. Đây là cao điểm quan trọng để bảo vệ sân bay Tà Cơn, Mỹ cố gắng cố thủ bảo vệ, ta thì quyết đánh. Nếu Mỹ mất cao điểm 689, sân bay Tà Cơn sẽ hở sườn, buộc Mỹ phải rút khỏi địa bàn chiến lược Khe Sanh.Tôi chiến đấu ở Quảng Trị đến hết năm 1969, đến năm 1970 - tôi ra Bắc học. Suốt những năm tháng chiến đấu ở Quảng Trị, tôi có biết bao nhiêu kỷ niệm không thể nào quên. Đứng giữa ranh giới của sự sống - cái chết, khi đối diện thường trực với hiểm nguy, khi đứng trong cuộc chiến ấy, con người bỗng nhiên trở nên phi thường.

Tôi nhớ mãi một kỷ niệm, khi đánh địch ở cao điểm 300 Đất, tôi đi tìm đồng đội - là anh Hải. Khi tôi tìm thấy Hải, anh ấy đã bị máy bay trực thăng Mỹ bắn đứt 2 cái thăn thịt ngang thắt lưng và bị mẻ xương sống, ra rất nhiều máu. Tôi băng bó sơ bộ cho Hải, khi Hải tỉnh lại, anh ấy nói với tôi rằng, “Đồng chí quay lại với trung đội đi, trung đội rất cần đồng chí, anh cứu tôi thì cả 2 cùng chết. Tôi bị thương nặng lắm rồi, cứ để tôi lại ở đây”. Tôi chỉ nói, tôi không bao giờ bỏ anh, sống cùng sống, chết cùng chết.Thế rồi, tôi vác anh Hải vượt qua mưa bom bão đạn chạy xuyên rừng. Sau gần 2 giờ đồng hồ, tôi đưa anh Hải về đến nơi tập kết.Phải đến khi anh Hải được khênh đi cấp cứu ở trạm phẫu của tiểu đoàn, tôi mới chợt nghĩ, vì sao tôi có thể khỏe đến thế, vác đồng đội cùng với 2 khẩu AK, lựu đạn... mà băng rừng trong mưa bom như thế! Khi đặt vào hoàn cảnh khốc liệt của cuộc chiến, chúng tôi như được tiếp thêm sức mạnh.

Mới đây, tôi được đoàn phim “Mưa đỏ” mời đến tư vấn thêm khi họ làm về cuộc chiến 81 ngày đêm bảo vệ thành cổ Quảng Trị năm 1972. Tôi rất tâm huyết với câu nói của nhà văn Chu Lai - tác giả kịch bản phim “Mưa đỏ”:"Phải có những trận mưa máu - mưa đỏ ở Quảng Trị và khắp các trận địa những năm tháng ấy, mới có bầu trời xanh hôm nay".Tôi ngẩng nhìn trời xanh mà nhớ thương đồng đội khôn cùng.

Đại tá Đào Văn Phê đã giúp thế hệ trẻ như chúng ta nhận thức được ông cha ta đã cực khổ như thế nào để có được cuộc sống yên bình, vui vẻ như hôm nay, vì vậy chúng ta phải luôn ghi nhớ các công lao của anh hùng.

Đại tá Đào Văn Phê trong cuộc trò chuyện với phóng viên Báo Lao Động

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn