CỰU CHIẾN BINH TRƯƠNG VĂN TÍ: NGƯỜI CHIẾN SĨ "MỞ ĐƯỜNG" VÀ KÝ ỨC VỀ THỜI HOA LỬA.
Trong căn nhà nhỏ, bà ngồi đó, đôi bàn tay nhăn nheo vân vê tấm ảnh cũ. Phía ngoài sân, nắng vẫn chiếu vàng, nhưng đôi mắt bà dường như đang nhìn về phía bờ kênh cũ – nơi ngày xưa nối liền giữa xóm nhà bà và nhà ông. Dòng kênh ấy không chỉ là địa lý, mà là nơi bắt đầu của mối tình thời thanh xuân, nơi chứng kiến ông – người chiến sĩ công binh Trương Văn Tí – ra đi và trở về sau những năm tháng "hoa lửa".
Ông Trương Văn Tí sinh năm 1950, mất năm 2013. Ông là người con quê hương Lý Nhân, Hà Nam (nay là xã Nhân Hà, tỉnh Ninh Bình). Theo lời kể của bà Ngô Thị Lan – vợ ông Tí, ông Tí lớn lên trong những năm tháng đất nước chìm trong khói lửa. Khi còn là cậu học trò trường kỹ thuật ở Nam Định, bom đạn đã bắt đầu lan rộng. Những năm 1965–1966, quê hương ông liên tục bị máy bay Mỹ ném bom, người dân phải sống trong cảnh luôn chực chờ tiếng còi báo động để chui xuống hầm trú ẩn.
Năm 1967, khi tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc vang lên, chàng trai 17 tuổi gác lại bút nghiên, xếp lại ước mơ đèn sách để tòng quân. Bà kể, khi ấy “Nhà nước gọi thì đi”, chẳng ai chần chừ, ai cũng một lòng hướng về tiền tuyến. Ngày ông đi, bờ kênh cũ in dấu những bước chân vội vã, để lại bà – cô thiếu nữ mười bảy tuổi – với lời hẹn ước mong manh giữa mù mịt khói lửa chiến tranh.
Ông vào lính công binh – những người "đi trước về sau", chuyên san lấp hố bom, rà phá mìn, mở đường cho quân ta tiến công. Những năm tháng ở chiến trường miền Nam, qua Đường 9 - Nam Lào (1971), là một thước phim dài đầy gian khổ. Bộ đội phải đi bộ xuyên rừng, ăn ngô rang cầm cự. Có những tuần đường tiếp tế bị máy bay Mỹ đánh chặn, đói đến mức bụng cào, nhìn thấy củ sắn rừng cũng quý như vàng.
Bà kể về một câu chuyện mà ông ít khi nhắc tới: lần đơn vị phát hiện thi thể của 10 đồng đội đã hy sinh giữa rừng sâu. Giữa đêm mịt mù, mùi tử khí bủa vây và tiếng hổ rừng gầm gừ đòi "phần", ông. Khi đó, là chính trị viên đại đội, ông đã không ngần ngại xung phong ở lại canh giữ. Ông ngồi đó, tay ôm súng, không dám chớp mắt suốt đêm, chỉ để anh em nằm xuống được yên nghỉ, không bị thú rừng xâm phạm. Với ông, đồng đội là ruột thịt, là máu xương.
Có một lần, đơn vị đề nghị ông làm chiến sĩ biệt động bên Lào, yêu cầu ông phải xóa tên, giả vờ hy sinh để giữ bí mật tuyệt đối. Nhưng ông đã từ chối. Ông bảo: "Đời tôi có thể hy sinh, nhưng không thể bắt vợ con ở quê phải thờ vọng một người còn sống". Ông chấp nhận gian khổ, chấp nhận sống trong mưa bom bão đạn chứ nhất quyết không để gia đình gánh chịu nỗi đau của một tờ giấy báo tử giả. Ấy vậy mà từ năm 1974 đến 1978, chiến tranh khốc liệt cắt đứt mọi liên lạc. Gia đình không nhận được bất kỳ lá thư nào. Ở quê nhà, ai cũng đinh ninh ông đã hy sinh. Bà kể, giọng chùng xuống: "Không có tin gì hết… cứ nghĩ là ông mất rồi… mà không biết hỏi ai".
Năm 1978, ông được về phép 15 ngày. Và như lời hứa thời xuân, ông lấy bà làm vợ. Tuy chỉ là cái dạm ngõ dơn giản nhưng thời ấy, ở quê vừa dứt chiến tranh, làm sao có đủ điều kiện để chỉn chu mọi thứ? Rồi sang mùa thu năm 1979, bà mang bầu sinh đôi, nhưng do thiếu thốn, một đứa con đã không qua khỏi. Khi nhắc lại, bà lặng đi một lúc lâu: "Ngày đó khổ quá… giữ được một đứa là may rồi… Em nó mất khi mới một tháng tuổi, anh nó suýt cũng không qua khỏi". Rồi bà lại nghẹn ngào: “Con ốm yếu, mình bà lo không nổi nên điện ông về. Nhưng trong ấy chiến tranh chưa dứt, ông ở tuyến đầu không thể trở về. Cho đến khi đứa út quá đói mà chết, ông hay tin, đơn vị mới đặc cách cho ông về để lo việc nhà.”
Bà chia sẻ: Ở quê, bà vừa làm lính vừa làm hậu phương, chật vật nuôi con trong cảnh đói nghèo. Có những ngày gánh con đi chợ Rồng Nam Định, một bên quang gánh lá chuối, bên kia là đứa trẻ ngồi co quắp trong thúng. Rau dâm bụt, rau má luộc qua ngày… những bữa cơm thời chiến của bà cứ thế mà trôi qua. Trong khi đó, ở chiến trường, ông có sở thích săn thú rừng. “Hồi nào săn được, ông cũng cố gắng chắt chiu, sấy khô làm ruốc gửi về. Món ruốc ấy, đối với bà và chú, là hương vị của sự sống mà ông gửi từ nơi tử địa về cho gia đình.” – bà nói.
Ngày đất nước giải phóng, ông tiếp tục làm nhiệm vụ tại Lào và Campuchia. Những cung đường chiến tranh đã để lại di chứng trên cơ thể ông: một bên tai bị liếc, sức khỏe suy giảm do đi qua nhiều vùng chứa chất độc da cam. Mãi đến năm 1989, ông mới chính thức về hưu. Hiện tại, ông đã được nhà nước trao tặng “Huân chương kháng chiến Hạng Nhì” (năm 2000), bằng khen tặng Huy hiệu 30, 35, 40 năm Tuổi Đảng,…
Giờ đây, ông đã không còn nữa. Bà nhìn ra bờ kênh, nơi ngày xưa bà vẫn đứng ngóng trông, rồi lại nhìn di ảnh ông, thở dài: "Ông ấy đi suốt… ba, bốn năm mới về một lần… mà vẫn cứ đi…".
Câu chuyện về ông Trương Văn Tí không chỉ là ký ức của một gia đình, mà là hình ảnh tiêu biểu của cả một thế hệ "xẻ dọc Trường Sơn". Người lính công binh ấy đã dành cả thanh xuân để "mở đường" cho hòa bình của đất nước, và cũng chính tình yêu, lòng thủy chung của ông bà đã "mở đường" cho gia đình vượt qua những kiếp nạn gian khổ nhất. Những gì còn lại hôm nay, không chỉ là ký ức, mà là niềm tự hào vẹn nguyên dành cho những người đã sống và chiến đấu trong thời kỳ rực rỡ và bi tráng nhất của dân tộc. Và đến nay, hình ảnh người chiến sĩ công binh Trương Văn Tí vẫn mãi là ngọn lửa thiêng trong tâm khảm gia đình, quê hương đời đời ghi nhớ.


