Bài viết

cựu chiến binh Trương Xuân Bái

TP. Hồ Chí Minh03/07/2026Nguyễn Thị Như Huỳnh3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong không khí thiêng liêng của những ngày tháng Tư lịch sử, ký ức về Đại thắng mùa Xuân năm 1975 vẫn còn vẹn nguyên trong tâm trí của các cựu chiến binh dân tộc Thái trên quê hương Yên Châu và Bắc Yên, Sơn La những người lính năm xưa đã góp phần làm nên chiến thắng vĩ đại nhất của dân tộc. Họ là những chứng nhân sống động, mang trong mình cả một thời thanh xuân rực lửa với những câu chuyện hào hùng về tình đồng đội, về sự hy sinh và cả niềm vui vỡ òa khi đất nước thống nhất. Cựu chiến binh Quàng Văn Thiềng, người con của dân tộc Thái ở tiểu khu 2, thị trấn Yên Châu, năm 1972 được biên chế vào Sư đoàn 316 bộ binh. Tháng 10 năm 1974, đơn vị của ông tiến vào miền Nam, tham gia giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột một trong những trận đánh mở màn mang tính bước ngoặt của Chiến dịch Tây Nguyên. Sau chiến thắng, khi Buôn Ma Thuột được giải phóng và tình hình an ninh ổn định, ông cùng đơn vị hành quân xuống Tây Ninh để chuẩn bị cho Chiến dịch Hồ Chí Minh trận quyết định cuối cùng để giải phóng Sài Gòn. Ông nhớ lại những ngày tháng lịch sử ấy với giọng nghẹn ngào xúc động: "Bắt đầu chuyển xuống Tây Ninh, chúng tôi nhận lệnh cấp trên là chiến dịch Giải phóng Sài Gòn, mang tên Chiến dịch Hồ Chí Minh. Đơn vị chúng tôi chặn giữ không cho lính của Sư đoàn 25, Việt Nam Cộng hòa từ Tây Ninh xuống ứng cứu căn cứ Đồng Dù và ứng cứu Sài Gòn". Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt, toàn bộ khu vực bị đánh bom dữ dội, nhiều đồng đội của ông đã hy sinh và bị thương, đặc biệt là ba ngày 26, 27, 28 tháng 4, khi cuộc tấn công của quân ta đạt đến đỉnh điểm gay go nhất. Và rồi, khoảnh khắc lịch sử đã đến gần 12 giờ trưa ngày 30/4/1975, sóng đài phát thanh bỗng vang lên giọng nói của Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Ông Thiềng kể: "Riêng bản thân chúng tôi là những người chiến đấu trực tiếp rất vui sướng, mấy anh em ôm nhau khóc vì quá mừng, đồng bào miền Nam còn tặng bộ đội bánh tét…" đó là những giọt nước mắt của chiến thắng, của sự giải phóng sau bao nhiêu năm đằng đẵng chờ đợi.
Không chỉ có ông Thiềng, mà còn biết bao người lính khác từ mảnh đất Yên Châu cũng mang trong mình những ký ức hào hùng về ngày đại thắng. Cựu chiến binh Lường Văn Chựa, ở xã Chiềng Pằn, từng là chiến sĩ binh chủng tên lửa, năm 1967 đã cùng Tiểu đoàn 52, Trung đoàn tên lửa 267 tham gia chiến dịch 41 ngày đêm bảo vệ thành phố cảng Hải Phòng đầu mối quan trọng tiếp nhận hàng viện trợ từ các nước xã hội chủ nghĩa cho quân và dân ta. Trong chiến dịch ác liệt ấy, Mỹ dồn các loại máy bay hiện đại đánh phá liên tục, nhưng quân ta đã chiến đấu anh dũng, bắn rơi 3 chiếc máy bay chỉ trong 2 ngày, bảo vệ thành công cảng Hải Phòng thành tích khiến Bác Hồ đã gửi tặng hoa động viên. Sau đó, đến năm 1972, đơn vị ông lại vào Quảng Bình, chiến đấu tại Thụ Lộc với quyết tâm bảo vệ tuyến đường 21 dọc Trường Sơn – huyết mạch chi viện cho chiến trường miền Nam. Còn cựu chiến binh Nguyễn Đức Minh chiến sĩ kỹ thuật của Quân khu Tây Bắc tuy không trực tiếp tham gia trận đánh lớn, nhưng ông và đơn vị của mình luôn trong tư thế sẵn sàng rèn luyện, học tập để tăng cường lực lượng cho chiến trường miền Nam. Ông nhớ lại những ngày tháng 4 năm 1975, khi Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu tấn công theo 5 hướng vào Sài Gòn, ông và đồng đội vẫn đang miệt mài huấn luyện thì bất ngờ nhận được tin giải phóng niềm vui sướng vỡ òa khiến cả đơn vị như muốn vỡ tung vì hạnh phúc. Với họ, ký ức về những tháng ngày ấy đã trở thành niềm tự hào thiêng liêng, và giờ đây, ở tuổi ngoài 70, khi gặp lại đồng đội cũ vào những ngày tháng Tư, trang ký ức ấy lại ùa về như mới hôm qua, đầy sống động và xúc động.
Và không chỉ ở Yên Châu, trên mảnh đất Bắc Yên, cựu chiến binh Bùi Đăng Bình cũng mang trong mình một hành trình đầy bi hùng từ quê hương Thái Bình vào chiến trường miền Nam. Sinh ra ở huyện Đông Hưng, Thái Bình, nhưng từ năm 9 tuổi, ông đã theo chú ruột vào sống ở Hà Tĩnh nơi hứng chịu những đợt ném bom ác liệt nhất của Mỹ nhằm cắt đứt đường chi viện cho miền Nam. Năm 17 tuổi, ông xung phong đi khám tuyển nghĩa vụ đến 3 lần nhưng đều bị từ chối vì lý do sức khỏe. Đến năm 1974, khi có lệnh tổng động viên, ông cùng hai người bạn viết đơn tình nguyện và được chính thức nhập ngũ ngày 11/12/1974. Sau quá trình huấn luyện tại Đoàn 22, Quân khu 4 ở Hương Sơn, Hà Tĩnh, đầu tháng 2/1975, ông được biên chế vào Đại đội 6, Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 266, Sư đoàn 341, Quân đoàn 4, đóng quân tại huyện Lệ Thủy, Quảng Bình. Trung tuần tháng 2 năm 1975, đơn vị ông lên đường vào chiến trường Tây Nguyên theo con đường mòn Hồ Chí Minh, dọc khắp các tuyến đường đều thấy những người lính trẻ, dân công hỏa tuyến và thanh niên xung phong, tất cả đều có chung một khát vọng "Nam tiến". Đến ngày 7/4/1975, trong khu rừng Túc Trưng ở huyện Định Quán, tỉnh Long Khánh (nay là Đồng Nai), không khí căng thẳng đến nghẹt thở, mọi người thức suốt đêm để chuẩn bị cho trận đánh lớn. Bữa cơm tối hôm ấy đầy đủ hơn mọi ngày với rau rừng, thịt hộp và cá mòi từ sông La Ngà, và trong khoảnh khắc ấy, mỗi người lính tranh thủ chỉnh sửa súng ống, viết thư về gia đình – những dòng nhật ký cuối cùng có thể là vĩnh biệt. Ông Bình vẫn nhớ lá thư ngắn ngủi: "Mẹ ơi, con vẫn khỏe. Mẹ giữ gìn sức khỏe, ngày chiến thắng con sẽ về" đó là sợi dây kết nối thiêng liêng giữa tiền tuyến và hậu phương, tiếp thêm sức mạnh cho người lính.
Rạng sáng ngày 9/4/1975, hàng loạt bộc phá phá tan hàng rào thép gai mở đường cho bộ binh xông lên, mở màn trận Xuân Lộc một trong những trận đánh ác liệt nhất trong toàn bộ chiến dịch, nơi ta và địch giành giật từng con phố, từng ụ đất trong nhiều ngày liền. Quân địch cố thủ quyết liệt, điều thêm xe tăng, pháo binh và máy bay, trút bom xuống trận địa của ta, nhưng quân ta vẫn bám trụ và phản công ngoan cường. Mãi đến ngày 21/4/1975, trước sức tấn công như vũ bão, địch rút chạy, ta giải phóng hoàn toàn tỉnh Long Khánh cánh cửa cuối cùng đã mở toang dẫn thẳng vào Sài Gòn. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh từ ngày 26 đến 30/4/1975, đơn vị ông tiếp tục tiến đánh Trảng Bom, Hưng Nghĩa, sân bay Biên Hòa và tổng kho Long Bình rồi thẳng tiến vào Sài Gòn. Xa lộ Biên Hòa ngập tràn xe cộ và vũ khí của quân Ngụy bỏ lại, mỗi bước chân hành quân là một bước đi giữa lịch sử đang được viết. 5 giờ sáng ngày 1/5/1975, đơn vị ông tiến vào ga Bình Triệu, dù trời còn tối nhưng người dân đã đổ ra đường vẫy cờ reo hò. Khoảnh khắc đáng nhớ nhất với ông là khi một người mẹ Nam Bộ chạy đến, ôm chầm lấy ông và khóc: "Các con đã về rồi...!" giọt nước mắt của hạnh phúc, của sự sum họp sau bao thăng trầm chiến tranh, khiến cả con đường từ Bình Lợi đến Dinh Độc Lập dù chỉ dài 5 km nhưng chật ních người và tình cảm.
Sau chiến thắng, tháng 2 năm 1981, ông Bình rời quê hương Thái Bình lên Bắc Yên, Sơn La, bắt đầu hành trình xây dựng vùng kinh tế mới. Từ một người lính trở về với cuộc sống đời thường, ông dành trọn tâm huyết cho sản xuất và phát triển kinh tế, tham gia tích cực vào các phong trào địa phương, giúp đỡ bà con trong trồng trọt, chăn nuôi và hướng dẫn kỹ thuật nông nghiệp. Dù tuổi đã cao, ông vẫn nhiệt tình tham gia các hoạt động của Hội Cựu chiến binh, truyền dạy cho con cháu những câu chuyện lịch sử hào hùng, những bài học về lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm với quê hương và đạo lý "uống nước nhớ nguồn". 50 năm đã trôi qua, những ký ức về ngày tháng chiến đấu gian khổ và đầy tự hào vẫn còn mãi trong trái tim của những người lính già xứ Tây Bắc, như một trang sử hào hùng để các thế hệ con cháu khắc ghi và phát huy. Những người lính dân tộc Thái ấy, bằng tình yêu Tổ quốc và tinh thần dũng cảm kiên cường, đã góp phần làm nên mùa Xuân đại thắng, và hôm nay, họ vẫn tiếp tục là những bông hoa thắm tươi trong vườn hoa truyền thống cách mạng, là chỗ dựa vững chắc cho cộng đồng, là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ noi theo, để mỗi độ tháng Tư về, câu chuyện chiến thắng 30/4 mãi không bao giờ cũ, vẫn vang vọng như một khúc tráng ca bất diệt.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn