Bài viết

Cựu chiến binh và những ký ức hào hùng

Đắk Lắk17/08/2026Xã Sơn Tịnh (Đoàn xã Sơn Tịnh)7 lượt xem0 lượt chia sẻ

ông Dương Văn Loát, hiện trú tại tổ dân phố 5, phường Ea Tam (TP.Buôn Ma Thuột), “đi bộ đội, đi theo cách mạng” là một bước ngoặt lớn, mang lại nhiều thay đổi cho cuộc đời.

Hằng năm ông Dương Văn Loát (hàng đầu, thứ hai từ trái sang) và các đồng đội  đều tổ chức gặp mặt nhân kỷ niệm Chiến thắng Điện Biên Phủ.

Hằng năm ông Dương Văn Loát (hàng đầu, thứ hai từ trái sang) và các đồng đội đều tổ chức gặp mặt nhân kỷ niệm Chiến thắng Điện Biên Phủ.

Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, chàng trai quê lúa Thái Bình Dương Văn Loát phải lang thang kiếm ăn, ở đợ cho người khác. Năm 1952, ông Loát đi theo bộ đội, tham gia chiến đấu ở các đơn vị địa phương rồi được bổ sung vào bộ đội chính quy. Năm 1953, ông trở thành chiến sĩ Trung đoàn 367 cao xạ pháo 37 ly – đơn vị pháo cao xạ được thành lập ở Định Hóa, Thái Nguyên. Được sang tập huấn ở Trung Quốc, đến tháng 12-1953, đơn vị của ông hành quân bí mật về Tuyên Quang, sau đó tiến quân vào Điện Biên. Ông nhớ lại: “Từ địa điểm tập kết, chúng tôi được lệnh kéo pháo vào trận địa. Mỗi khẩu pháo nặng đến 2,4 tấn, nòng vươn cao lên trời, đường đi lại dốc, có nơi dốc cao đến 60 độ. Mỗi khẩu pháo phải huy động cả một đại đội kéo (khoảng 100 người), dùng dây rừng để làm tời, có 4 người làm nhiệm vụ chặn 4 bánh xe của khẩu pháo. Kéo pháo nặng nề khó khăn như vậy, lại thường xuyên bị máy bay và  pháo địch cản trở nên di chuyển rất chậm, nhích từng chút một, có đêm chỉ đi được chừng 1 km. Tháng 1-1954, sau khi kéo pháo vào trận địa, chúng tôi chỉ còn chờ lệnh tấn công; thế rồi lại được lệnh... kéo pháo ra. Kéo vào đã khổ, kéo pháo ra còn khổ hơn. Ai cũng thắc mắc, sau này mới biết chúng ta chuyển từ phương châm “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Có thể nói, nhờ quyết định sáng suốt đó của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, chúng tôi mới còn sống đến ngày hôm nay”.

Sau hai tháng củng cố đội ngũ, đơn vị ông Loát lại được lệnh kéo pháo vào trận địa. Ông kể: “Ngày ấy Điện Biên Phủ có mật danh là Trần Đình. Ngày 13-3-1954, ngày mở màn chiến dịch, chúng tôi nhận lệnh: hôm nay không đánh Trần Đình mà chúng ta đánh Điện Biên Phủ. Đêm đó ta đánh cứ điểm Him Lam, pháo bắn sáng rực một góc trời, đến cả một cái kim cũng nhìn thấy; hôm sau thì đánh đồi Độc Lập...”. Đơn vị của ông Loát chiến đấu tại khu vực Mường Thanh. Cứ tối đến, đơn vị lại kéo pháo đến sát hàng rào Mường Thanh bắn máy bay, ngăn không cho chúng thả dù tiếp viện lương thực, vật dụng vào đồn giặc. Gần sáng lại kéo pháo ra, bố trí lại trận địa. Ông nhớ có lần khẩu đội của mình bắn rơi một chiếc máy bay B24. Chiếc máy bay khổng lồ rơi xuống một cánh rừng, bị một cây cổ thụ chọc thủng xuyên qua bụng. Cả đơn vị của ông tìm đến cánh rừng và chụp ảnh bên cạnh xác chiếc máy bay ấy. Giờ đây trong trí nhớ ông Loát vẫn in đậm tinh thần chiến đấu hăng hái, sục sôi của đồng đội, dù phải đối mặt với nhiều gian khổ, thiếu thốn. Ông bảo: Chiến đấu liên tục, không được nghỉ ngơi; ăn uống kham khổ, chỉ có cơm nếp gói thành bánh ăn với món mắm tôm đặc nhưng mọi người đều đồng lòng, hăng hái.

Sau chiến thắng ngày 7-5-1954, đơn vị của ông Loát còn ở lại thu dọn chiến trường, thu chiến lợi phẩm và giám sát địch vận chuyển thương binh cho đến tháng 7-1954 mới xong. Miền Bắc được giải phóng, ông Loát được đi học văn hóa, chuyển sang ngành địa chất, dầu khí. Tháng 3-1975, ông lại xung phong nhập ngũ, vào chiến trường Tây Nguyên, từ Kon Tum, sang Gia Lai và cuối cùng gắn bó với Dak Lak đến nay.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn