Cựu Chiến Bình Việt Nam – Những Người Anh Hùng Thầm Lặng
Ngày 12/6 hàng năm, cả nước Việt Nam dành trọn vẹn để tri ân những người cựu chiến binh – những người chiến binh cống tuổi trẻ, xương máu để bảo vệ hòa bình và độc lập cho dân tộc.
Đây không chỉ là một ngày lễ kỷ niệm mà còn là dịp để mỗi người dân Việt Nam nhìn lại và ghi nhớ công lao của những người anh hùng thầm lặng.Chiến tranh đi qua, các cựu chiến binh lại tiếp tục đóng góp cho quê hương trên một mặt trận mới. Nhiều người trở về với cơ thể không còn lành lặn, mang theo những vết thương chiến tranh, nhưng tinh thần thép thì vẫn còn nguyên. Hậu quả nặng nề nhất của chiến tranh là về con người. Hàng nghìn người đã ngã xuống, không chỉ là lính mà còn là dân thường vô tội. Những người sống sót mang trong mình nỗi đau thể xác và tinh thần, như các thương binh và bệnh nhân chất độc màu da cam. Chiến tranh cũng tàn phá môi trường.
Chất thải hóa học từ bom mìn phá hủy thiên nhiên, làm ô nhiễm môi trường sống. Kinh tế bị kiệt quệ, nền văn minh và phát triển bị đe dọa. Sau cuộc chiến, các nước tham chiến phải đối mặt với khủng hoảng kinh tế, như sau Đại chiến thế giới, Anh, Pháp và Mỹ đều rơi vào khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng.
Việt Nam đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh, từ thời Bắc thuộc đến hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Những hậu quả của chiến tranh vẫn còn hiện hữu như bệnh nhân chất độc màu da cam và những dư chấn tâm lý. Chiến tranh là một từ ám ảnh và đáng sợ. Chúng ta cần đồng lòng chống lại chiến tranh, bảo vệ hòa bình cho nhân loại.
Hình ảnh đường mòn Hồ Chí Minh – con đường huyền thoại: Ảnh tư liệu báo Dân trí
Với tinh thần "cựu nhưng không cũ”, những cựu chiến binh (CCB) tỉnh Hưng Yên từng vào sinh ra tử nơi chiến trường để giành độc lập, tự do cho dân tộc; trở về với đời thường họ tiếp tục tiên phong trên mặt trận kinh tế, tích cực tham các hoạt động, phong trào của địa phương.
Tấm gương xông pha thời chiến
CCB Vũ Văn Thắng, phường Phố Hiến trân trọng lưu giữ những kỷ niệm cùng đồng đội.
Tháng 12/1970, chàng thanh niên 17 tuổi Hoàng Ngọc Thảo (xã Hưng Hà) xung phong nhập ngũ, thành lính lái xe Binh đoàn Trường Sơn. 5 năm trên những chiếc xe “không kính” xẻ dọc Trường Sơn dưới làn mưa bom, bão đạn của địch, sự sống và cái chết chỉ cách nhau trong gang tấc, ông Thảo không còn nhớ mình cùng đồng đội đưa bao nhiêu chuyến hàng tiếp ứng cho chiến trường miền Nam, mà chỉ nhớ nhiều năm ông được công nhận danh hiệu “Dũng sĩ lái xe Trường Sơn”. Năm 1977, chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra, ông Hoàng Ngọc Thảo vẫn trực tiếp chở vũ khí, hàng hóa phục vụ cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.
Tháng 2/1975, ông Vũ Văn Thắng (phường Phố Hiến) nhập ngũ và được đầu quân làm lính thông tin của Sư đoàn 320 Quân đoàn 1, thần tốc hành quân vào Nam chiến đấu. Ông Thắng kể: Ngày ấy, chúng tôi vừa đi vừa huấn luyện. Càng tiến vào chiến trường miền Nam, bom đạn càng khốc liệt, nhưng ai cũng xác định tinh thần Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Những người làm công tác thông tin hữu tuyến càng đòi hỏi sự kiên cường, bởi dù bom đạn cày xới thì vẫn phải bảo đảm đường dây thông tin để việc chỉ huy chiến dịch thông suốt, kịp thời.
Ngày 29/4/1975, đơn vị của ông Thắng được lệnh phối hợp với các lực lượng khác tiêu diệt địch ở Tân Uyên, Lái Thiêu, thọc sâu vào Sài Gòn. Ngày 30/4/1975 lịch sử, đơn vị của ông tiếp tục hành quân về Gia Định, tiến đánh và tiếp quản Bộ Tổng Tham mưu ngụy quyền Sài Gòn. Khi nghe tin quân địch đầu hàng vô điều kiện, từ những giờ phút im lặng đến nghẹt thở để đánh địch đến khi bộ đội, nhân dân ta đổ xuống đường cầm cờ đỏ sao vàng hát khúc khải hoàn, niềm vui không tả hết bằng lời.’’tư liệu báo Hưng Yên’’
ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN, ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH – CON ĐƯỜNG HUYỀN THOẠI TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC, GÓP PHẦN THẮNG LỢI CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG ĐẾ QUỐC MỸ
Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954 được ký kết, đất nước ta bị chia cắt làm hai miền: miền Bắc hoàn toàn giải phóng; miền Nam vẫn tạm thời nằm trong sự kiểm soát của chính quyền Ngô Đình Diệm. Để giữ liên lạc giữa hai miền Bắc – Nam, bảo đảm sự chỉ đạo của Trung ương Đảng đối với cách mạng miền Nam; tháng 5/1959, Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng đã cụ thể hóa nhiệm vụ cách mạng được đề ra tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam lần thứ 15 (khóa II) quyết định thành lập “Đoàn công tác đặc biệt” (sau gọi là Đoàn 559).
Ngày 19/5/1959, Thường trực Tổng Quân ủy chính thức giao nhiệm vụ cho “Đoàn công tác đặc biệt” mở đường vận chuyển hàng quân sự, tổ chức đưa đón bộ đội, chuyển công văn, tài liệu từ Bắc vào Nam và ngược lại từ những đường mòn trước đó (ngày 19/5/1959 cũng là ngày truyền thống của Đoàn 559 – Bộ đội Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh). Con đường vượt qua nhiều dãy núi cao, sông sâu, khí hậu vô cùng khắc nghiệt, cùng với hệ thống đồn bốt, chốt chặn của địch; để đảm bảo tuyệt đối bí mật, khẩu hiệu hành động của Đoàn là “Ở không nhà, đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”, phải chủ động tránh địch và bí mật. Ngày 13/8/1959, chuyến hàng đầu tiên được gùi bộ vượt Trường Sơn bàn giao cho Liên Khu 5, tại Trà Riệp gồm 20 khẩu tiểu liên Tuyn, 20 khẩu súng trường Mát, 10 thùng đạn tiểu liên và súng trường; tuy số lượng còn hạn chế, nhưng đây là nguồn cổ vũ lớn đối với chiến sĩ, thể hiện quyết tâm của Đảng, tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và quân, dân miền Bắc gửi tới đồng bào, chiến sĩ miền Nam.
Đường mòn Hồ Chí Minh - con đường huyền thoại“tư liệu báo dân trí”
Ngày 12/9/1959, Bộ Quốc phòng ra quyết định chính thức thành lập Đoàn 559, trực thuộc Bộ Quốc phòng. Sự phát triển nhanh chóng của Đoàn 559 với hệ thống hành lang giao liên vận tải quân sự Đường Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh được thiết lập trở thành cầu nối hậu phương lớn miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam. Trải qua 16 năm (1959 – 1975), từ những đường mòn men theo dải trường sơn đã không ngừng được củng cố, vươn xa phủ kín dãy Trường Sơn, với tổng chiều dài toàn tuyến lên tới 20.000km xuyên Bắc - Nam và 3 nước Đông Dương. Với tinh thần “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, chung ý chí “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” và quyết tâm “đánh địch mà đi, mở đường mà tiến”, lớp lớp các lực lượng bộ đội, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, công nhân giao thông và nhân dân các dân tộc dọc tuyến đường luôn bền bỉ, kiên cường trụ bám trận địa, trụ bám mặt đường, giữ vững thông suốt cho mạnh máu giao thông này.
Đường Trường Sơn xưa “tư liệu google”
Lịch sử thế giới đã chứng kiến nhiều cuộc chiến tranh đẫm máu, mỗi cuộc đều đánh dấu một bi kịch không thể đền bù. Không ai có thể quên hai cuộc chiến tranh lớn nhất trong lịch sử thế giới, được biết đến là Chiến tranh thế giới thứ nhất và Chiến tranh thế giới thứ hai. Những cuộc chiến này đã được xem là tàn khốc nhất với sự tham gia của các nước lớn như Mỹ, Anh, Pháp và Liên Xô. Ai cũng còn nhớ những đau thương và mất mát không thể nào quên của hai thành phố Hiroshima và Nagasaki ở Nhật Bản, khi Mỹ đã thả hai quả bom nguyên tử xuống trong Thế chiến thứ hai. Cả hai thành phố chỉ còn lại đống đổ nát với mùi thuốc nổ và máu chảy khắp mọi nơi. Cuộc chiến giữa Trung Quốc và Nhật Bản đã lấy đi hàng ngàn sinh mạng. Nói về chiến tranh mà không đề cập đến Việt Nam, một dân tộc anh hùng đã hy sinh nhiều người trong các cuộc chiến tranh lịch sử, thì sẽ là thiếu sót.
Trong suốt hàng ngàn năm, dân tộc Việt Nam đã phải chống lại sự xâm lược của quân đội Nam Hán, Nguyên Mông và quân đội Thanh. Sau đó, đến lượt thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, một quốc gia mạnh mẽ và hiếu chiến, xâm lược đất nước. Mỗi cuộc chiến tranh là một lần đất nước chìm trong tang thương, nhân dân loạn lạc, sợ hãi và chết chóc. Không có từ ngữ nào có thể diễn tả đầy đủ hậu quả mà chiến tranh gây ra.
Là một người dân Việt Nam, chúng ta không thể quên được những cuộc chiến mà nhân dân ta phải trải qua. Từ buổi đầu dựng nước, dân tộc ta đã phải đối mặt với rất nhiều cuộc chiến tranh xâm lược của các nước láng giềng. Nhưng trong đó, những cuộc chiến tranh gây ra tổn thất nặng nề nhất phải kể đến cuộc chiến đấu bảo vệ đất nước suốt một nghìn năm Bắc thuộc và hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
Ngày nay nhìn những ngôi mộ liệt sĩ nằm dài theo dọc miền đất nước ta không khỏi xót xa và căm hận chiến tranh. Không chỉ để lại đau thương cho những con người thời chiến ngày ấy. Mà đến bây giờ khi đã sống giữa thời bình những ám ảnh về năm tháng bom đạn vẫn không ngừng ẩn hiện trong giấc mơ người lính. Có người lính già bao năm chinh chiến, ngày trở về vợ, con không nhận ra. Hay nhiễm trong mình chất độc màu da cam, di truyền cho bao thế hệ con cháu trong gia đình. Có thể nói tàn dư mà chiến tranh để lại ta chẳng thể đếm hết được bằng những con số. Thời gian dường như phai mờ tất cả nhưng những hồi ức về chiến tranh, chiến trường cứ mãi ăn sâu vào tâm trí bao người.
Hòa bình - chiến tranh hai trạng thái tưởng như tách biệt nhưng vô hình lại gắn kết với nhau. Ở mỗi giai đoạn chúng ta sẽ có những cách nhìn khác nhau về chúng. Là những chủ nhân tương lai, những thế hệ trẻ đang tiếp bước cha anh, chúng ta hãy cùng nhau lan tỏa yêu thương để góp phần xua tan đi bóng tối của chiến tranh để nguồn sáng hòa bình sẽ rực rỡ mãi trên thế gian...


