Cựu chiến binh Vũ Công Chiến – từ người lính 43 cân đến thủ khoa khoa Vô tuyến điện
Năm 1971, chàng sinh viên Bách khoa Vũ Công Chiến làm giấy bảo lưu kết quả rồi lên đường ra trận. Sau hơn sáu năm quân ngũ, ông trở lại giảng đường và tốt nghiệp với luận văn đạt điểm 10. Bài viết tổng hợp từ tư liệu báo Kinh tế & Đô thị (Công Thương).
Ông Vũ Công Chiến là sinh viên Đại học Bách khoa Hà Nội, có tên trong danh sách khóa 16 khoa Vô tuyến điện. Năm 1971, theo lệnh tổng động viên, ông đến trường làm giấy bảo lưu kết quả học tập rồi lên đường nhập ngũ. Ông ở trong quân ngũ hơn sáu năm.
Ông kể rằng ngay từ năm cuối cấp ba, không khí tòng quân đã lan khắp các lớp học. Nhiều bạn học được đặc cách công nhận tốt nghiệp sớm để kịp nhập ngũ. Chỗ ngồi cũ của những người đã đi được nhà trường khoanh lại thành “chỗ ngồi danh dự”. Những cậu học trò ở lại không bàn nhiều chuyện học hành, mà hẹn nhau sẽ gặp lại ở chiến trường.
Ngày lên đường của lính sinh viên diễn ra rất giản dị. Lễ tiễn được tổ chức ở sân trường vào tối hôm trước. Sáng hôm sau, cán bộ quân đội đến đọc tên từng người, ai được gọi tên thì xách túi đồ lên xe. Có người được báo hôm trước, hôm sau đã lên đường, không kịp về chào bố mẹ.
Lúc vào quân ngũ, ông Chiến chỉ cao 1,62 mét và nặng 43,5 cân. Chưa từng quen lao động nặng, ông cùng đồng đội phải tập đeo đất hành quân, tăng dần từ 15 lên 25 cân. Sau sáu tháng huấn luyện, họ phải đi bộ đủ 500 cây số, mỗi đêm mang 25 cân đất đi được 10 cây số, mới đủ tiêu chuẩn vào chiến trường. Những người lính sinh viên ấy hiểu rằng nếu không tự rèn luyện thì có thể hy sinh ngay cả trước khi kịp chiến đấu.
Lớp lính sinh viên năm ấy có mặt trên khắp các trận tuyến, từ Nam Lào đến Tây Nguyên, và quá nửa đã không trở về. Với ông Chiến, tình đồng đội là điều thiêng liêng nhất. Ông luôn biết ơn những người bạn đã nằm lại mãi mãi ở tuổi hai mươi.
Chiến tranh kết thúc, ông trở lại khoa Vô tuyến điện, học lớp K22, chậm hơn bạn bè phổ thông sáu năm. Năm năm sau, người lính năm xưa tốt nghiệp với điểm trung bình 9,3 và luận văn đạt điểm 10 tuyệt đối. Ông là người duy nhất trong khóa được tự chọn nơi công tác, và ông chọn Viện Khoa học Việt Nam. Ông nói ý chí của người lính đã giúp ông vượt qua mọi khó khăn, và ông luôn coi những năm quân ngũ là “một nửa của cuộc đời mình”.
Câu chuyện của ông Chiến là bài học cho sinh viên hôm nay: người lính năm xưa không chỉ giữ trọn lời thề ngoài mặt trận, mà còn trở về chinh phục giảng đường bằng chính nghị lực ấy. Chúng tôi có điều kiện học tập tốt hơn rất nhiều, nên càng phải nỗ lực để xứng đáng với thế hệ các ông.



