CỨU CHỮA THƯƠNG BINH ĐỊCH MƯỜNG THANH
Ngay sau chiến thắng Điện Biên Phủ, tôi vào Trung tâm Mường Thanh để xem hầm chỉ huy của tướng Đờcátxtơri, và sau đó xem những tên sĩ quan và binh lính lũ lượt ra hàng, dưới sự áp giải của các chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam hết sức nghiêm trang và hãnh diện.
Tôi đang đi quan sát, thì gặp đồng chí Trưởng phòng Quân y Đại đoàn 308 - Trần Lưu Khôi. Tôi chào đồng chí một cách rất vui vẻ như niềm vui chiến thắng đang đến, đồng chí Khôi giao ngay cho tôi nhiệm vụ ra sân bay Điện Biên lập trạm quân y để chăm sóc thương, tù, hàng binh địch (lúc đó tôi là y sĩ). Trước đó phải vào Trung tâm Mường Thanh để lấy thương binh địch từ các giao thông hào và hầm để đưa ra sân bay, có nhiều đơn vị cùng làm.
Khi đưa các thương binh địch ra sân bay, tôi thấy công binh của ta đã căng khoảng hơn 20 cái dù thả hàng rất to, mỗi cái có thể che được 30 đến 40 thương binh địch. Ngay sau đó trên có tăng cường cho tôi 2 đồng chí y tá nữ từ Đội điều trị 3 đến (Lý và Thu), chúng tôi bắt tay vào chăm sóc và thay băng cho thương binh địch. Thương binh địch sống trong các căn hầm lâu ngày, tăm tối nên các vết thương đều nhiễm trùng, hôi thối, nhất là dòi bọ nhiều nên rất đau đớn, nhiều vết thương mấy tháng không được thay băng. Chúng nằm trên cáng bằng bạt 2 tầng, có đứa vết thương gẫy xương chân, nước vàng chảy ra lưng từ bao lâu rồi. Do tình trạng vết thương nhiễm trùng, dòi bọ chui rúc đau đớn, không khí ô nhiễm nồng nặc, nên khi chúng tôi vào đưa chúng ra sân bay, tuy rất sợ song chúng lại rất vui mừng vì đã được sống, lúc đưa lên mặt đất. Rồi ra sân bay, chúng được hít thở không khí trong lành mát mẻ, được nhìn bầu trời bao la với những vì sao lấp lánh ban đêm hoặc những đám mây đen rình rập cơn mưa. Ban ngày với những ánh nắng mặt trời tỏa sáng, những cơn gió nhẹ nhàng làm quên đi tất cả những hãi hùng sau những ngày bị ta tiến công khủng khiếp.
Khi đưa chúng lên mặt đất, chúng còn được nhìn cánh đồng lúa mênh mông của Điện Biên, các bản làng ém mình vào các dãy núi xung quanh Điện Biên Phủ, với những rừng cây xanh biếc như ôm ấp lấy bản làng và đồng lúa mênh mông mà bao đời nay người dân vẫn sống thanh bình ở nơi đây, rồi quân viễn chinh Pháp nhảy dù xuống chiếm đóng và tàn phá, giết chóc.
Chúng tôi lần lượt thay băng, cắt lọc vết thương, lấy dòi bọ bớt ra rồi băng lại, sau mỗi lần thay băng xong cho một thương binh địch, tôi nhìn thấy trong họ ánh mắt vẻ cảm động và cảm ơn vì vết thương làm sạch hơn, bớt đau vì lấy bớt dòi bọ ra (mỗi vết thương nặng dòi bọ phải tính bằng kg). Bên cạnh việc chăm sóc vết thương, hậu cần của ta cho chúng những bữa ăn tươi, mỗi bữa ăn là một đĩa cháo to, trong đó có một miếng thịt trâu to bằng bàn tay, chúng ăn rất ngon lành và vui vẻ, vì những bữa ăn như thế chúng tôi gọi là ăn tươi, đem lại nguồn cảm hứng sâu sắc cho chúng mà trước đó chúng chỉ được ăn đồ hộp với sự căng thẳng của bom đạn và vết thương đau đớn.
Chúng tôi suy nghĩ mới một vài ngày trước, chúng còn là những tên giết người rất hung hãn, có nhiều nợ máu với nhân dân và quân đội ta - thế mà hôm nay chúng lại được ta chăm sóc vết thương, lo ăn uống rất chu đáo. Việc làm đó chỉ có thể xuất phát từ tấm lòng nhân đạo, từ chính sách đối với thương binh địch của Đảng và Quân đội ta. Chúng tôi nghĩ rằng mỗi tên thương binh đó khi trở về nước Pháp và các nước thuộc địa khác là những nhân chứng sống chứng tỏ: “Nhân dân Việt Nam rất dũng cảm kiên cường, nhưng lại có tấm lòng bao dung và nhân ái tuvệt vời, Quân đội nhân dân Việt Nam chiến đấu rất dũng cảm và anh hùng, song lòng nhân đạo đã để lại dấu ấn cho họ, gia đình và đất nước họ không bao giờ phai nhạt”.
Hơn 1 tháng làm nhiệm vụ chăm sóc, cứu chữa cho thương binh địch, khi trao trả những người thương binh cuối cùng trong tổng số 886 người, chúng tôi hết sức vui mừng vì đã hoàn thành nhiệm vụ. Trong thời gian trao trả, địch không dám oanh kích Điện Biên Phủ. Ta có điều kiện thu chiến lợi phẩm an toàn, đại binh ta tiến về trung du và đồng bằng Bắc Bộ tiếp tục chiến đấu và uy hiếp lực lượng địch còn lại ở Hà Nội, Hải Phòng, v.v...



