Cựu Thanh niên xung phong (16)
Bài viết : Những câu chuyện thời hoa lửa
Chiến tranh đã lùi xa theo năm tháng, nhưng những ký ức về một thời “hoa lửa” vẫn còn nguyên vẹn trong lời kể của những người từng sống và chiến đấu giữa bom đạn.Họ – những nhân chứng lịch sử – không chỉ chứng kiến mà còn trực tiếp góp phần làm nên những trang sử hào hùng của dân tộc.Một trong số đó có Trung tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Dương Công Sửu.
Dương Công Sửu sinh năm 1950 trong một gia đình người dân tộc Tày tại huyện Bắc Sơn,tỉnh Lạng Sơn.Ông nhập ngũ vào tháng 7 năm 1967, đến cuối năm 1967,ông vào miền Nam và tham gia chiến đấu tại mặt trận Tây Nguyên.Tháng 9 năm 1968, Dương Công Sửu trở thành Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 28 Đặc công,Sư đoàn 7, Quân đoàn 4; tại đây ông được kết nạp vào Đảng Lao Động Việt Nam. Từ năm 1968 đến năm 1973,ông đã tham gia chiến đấu và chỉ huy nhiều trận đánh lớn nhỏ ở khắp chiến trường Nam Bộ và Campuchia như trận tập kích nam Suối Ngô, trận cầu sắt Bà Chiêm, trận phục kích đánh xe cơ giới trên đường 13 nam Chơn Thành, trận tập kích cụm xe phía tây Cây Cầy, Bình Long và trận Lai Khe…
Sau chiến thắng từ trận phục kích chốt chặn Tây Nam Suông vào tháng 3 năm 1971, tháng 4 năm 1972, tiểu đoàn 28 được giao nhiệm vụ tổ chức bộ phận đánh nhỏ lẻ trên đường 13 nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực và phương tiện chiến tranh của đối phương. Dương Công Sửu được phân công tổ chức 15 đồng đội và nghiên cứu phương thức hoạt động của quân đối phương, ông đã lợi dụng vị trí chốt cũ để bố trí trận địa phục kích. Đến 7 giờ tối, chiếc xe đầu tiên của quân đối phương đã lọt vào trận địa. Sau một thời gian chiến đấu, ông cùng đồng đội đã phá hủy 3 xe quân sự, tiêu diệt 40 địch, bắt sống 6 tù binh và thu được 4 khẩu súng. Với chiến công đó, vào ngày 20/12/1973 Dương Công Sửu được Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đơn vị ông liên tiếp tham gia nhiều trận đánh quan trọng. Ngày 20/3/1975, từ Tây Huế, đơn vị nhận lệnh xuất kích, tiến theo hướng Đông Nam Khe Tre, đánh chiếm các điểm cao như Núi Bông, Núi Nghệ, cắt đứt đường 1 Huế – Đà Nẵng, góp phần giải phóng Huế và sau đó chặn địch rút chạy ở cửa Thuận An.Đêm 28/3/1975, đơn vị vượt đèo Hải Vân, phối hợp cùng các lực lượng từ phía Tây và Tam Kỳ tiến công giải phóng Đà Nẵng. Dù địch do tướng Ngô Quang Trưởng chỉ huy với lực lượng đông và trang bị mạnh chống trả quyết liệt, thành phố vẫn được giải phóng nhờ sự hiệp đồng của xe tăng, các quân binh chủng, du kích và nhân dân.Ngày 26/4/1975, đơn vị tập kết tại rừng Ông Quế (Long Thành, Đồng Nai), mang khí thế “thần tốc” khi bước vào Chiến dịch Hồ Chí Minh. Ngày 29/4, đơn vị tiến công căn cứ Nước Trong – “cánh cửa thép” phía Đông Sài Gòn. Sau nhiều giờ chiến đấu ác liệt và đẩy lùi phản công, đơn vị làm chủ trận địa, đồng thời phối hợp giữ vững các cầu trọng yếu như Rạch Chiếc, Đồng Nai, Sài Gòn, tạo điều kiện cho đại quân tiến vào giải phóng Sài Gòn. Để ngăn chặn bước tiến của quân giải phóng, địch sử dụng xe tăng M48, M41, M113 và cả tàu chiến trên sông Sài Gòn bắn dữ dội. Xe tăng 866 do đồng chí Lê Tiến Hùng chỉ huy khi vượt cầu Thị Nghè đã bị phản công, 3 chiến sĩ hi sinh. Ngay sau đó, xe 384 và 390 tiến lên ngã tư Hàng Xanh, tiếp tục gặp lực lượng địch chống trả. Pháo thủ Ngô Sỹ Nguyên kịp thời nổ súng, tiêu diệt 2 xe M113 và nhiều lính địch, phá vỡ thế phản kích.Tiếp tục tiến quân theo bản đồ xe buýt Sài Gòn, đơn vị gặp xe của đồng chí Bùi Quang Thận. Khi đến Dinh Độc Lập, xe của đồng chí Thận rẽ vào cổng phụ, còn xe 390 húc đổ cổng chính, mở đường cho quân giải phóng tiến vào, góp phần làm nên thời khắc lịch sử.
Sau ngày đất nước thống nhất, Dương Công Sửu được cử đi đào tạo tại các trường sĩ quan và Học viện Quân sự, sau đó về Bộ Tư lệnh Đặc công làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 198. Đơn vị này từng tham gia chiến đấu ở biên giới phía Bắc trong Chiến tranh biên giới Việt – Trung.Năm 1986, ông công tác tại Lạng Sơn; đến năm 1990 giữ chức Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn, chỉ đạo dò gỡ mìn, mở đường lên cửa khẩu Hữu Nghị phục vụ nhiệm vụ đối ngoại. Từ năm 2000 đến 2010, ông là Phó Tư lệnh Quân khu 1. Năm 2008, ông được thăng quân hàm Trung tướng và nghỉ hưu năm 2011.
Chưa từng chùn bước trước hiểm nguy, luôn bản lĩnh, mưu trí và táo bạo trong chỉ huy, ông đã lập nhiều chiến công vang dội trên các chiến trường Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Ông là vị tướng dày dạn trận mạc, góp phần viết nên những trang sử hào hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam. Thế nhưng, sau hơn bốn mươi năm quân ngũ với biết bao lần đối mặt sinh tử, khi trở về cuộc sống đời thường, ông vẫn giữ cho mình lối sống giản dị, khiêm nhường và chuẩn mực. Ở ông tỏa sáng phẩm chất cao đẹp của người lính Bộ đội Cụ Hồ – kiên trung trong chiến đấu, mẫu mực trong đời sống, trọn vẹn đạo đức cách mạng trong thời đại mới.



