Cựu Thanh niên xung phong
Tôi là Phí Công Nhàn, sinh ngày 17/7/1949. Giờ đây, khi mái đầu đã bạc trắng, bàn tay chai sạn năm xưa đã run run theo nhịp thời gian, tôi vẫn không thể quên được quãng đời thanh xuân rực rỡ mà cũng đầy gian khổ của mình - những năm tháng khoác áo xanh thanh niên xung phong, sống và làm việc giữa núi rừng Tây Bắc. Đó là một thời tuổi trẻ đẹp đẽ, trong sáng, gắn liền với mồ hôi, nước mắt và lòng yêu nước chân thành. Tôi tham gia lực lượng Thanh niên xung phong vào ngày 17/2/1969. Khi ấy, tôi mới tròn mười lăm tuổi rưỡi, còn rất trẻ. Ở quê tôi, cả bản khi ấy đều sục sôi khí thế thi đua, ai cũng muốn góp sức cho đất nước sau những năm tháng chiến tranh gian khổ. Hôm tôi lên đường, trời vẫn còn mù sương, mẹ tôi tiễn ra tận đầu bản, tay run run dúi cho tôi nắm cơm nếp và dặn: “Con đi cố gắng giữ gìn sức khỏe, làm việc cho tốt, nghe lời cấp trên, đừng để mẹ phải lo.” Tôi gật đầu, cắn chặt môi để kìm nước mắt. Trong lòng chỉ có một ý nghĩ duy nhất: phải làm được điều gì đó có ích cho Tổ quốc. Đơn vị của tôi được đóng quân ở Nậm Mô, Bản Tạo Cụ, huyện Sìn Hồ. Khi ấy vùng này hoang vu, đường đi hiểm trở, núi nối núi, rừng nối rừng. Cả đơn vị có 80 người, phần lớn là thanh niên từ các bản khác nhau, cùng chung một lý tưởng, một quyết tâm. Chúng tôi nhận nhiệm vụ làm con đường mới đi qua vùng Sìn Hồ – một tuyến đường rất quan trọng để nối thông các bản làng vùng cao. Công việc vất vả lắm. Ngày ấy chưa có máy xúc, xe ủi như bây giờ, tất cả đều làm thủ công bằng cuốc, xẻng, búa, xà beng và sức người. Núi đá dốc đứng, trời thì mưa triền miên, đất sạt, đá lở, nhưng chẳng ai nản chí. Mỗi sáng sớm, khi sương còn phủ trắng rừng, chúng tôi đã ra công trường, vừa làm vừa hát vang những câu ca: “Thanh niên xung phong ta tiến lên đường trường xa...” Giọng hát của chúng tôi vang vọng giữa đại ngàn, át cả tiếng chim, tiếng suối, nghe rộn ràng mà ấm áp lạ thường.
Tôi nhớ mãi đoạn đường mà tổ tôi đảm nhiệm - thuộc Đại đội 4 Phong Thổ hòm thư N233c23. Đó là đoạn khó nhất, nhiều dốc đá và khe sâu. Mỗi khi trời mưa, nước suối dâng cao, chúng tôi phải buộc dây quanh người để khỏi ngã xuống vực khi khuân đá. Có hôm mưa tầm tã, anh em phải ngâm chân dưới suối cả buổi để đắp bờ tạm cho xe thồ đi qua. Tối về, chân tay tím tái, quần áo ướt sũng, nhưng khi nghe tiếng cười của đồng đội, thấy ánh lửa bập bùng trong lán, ai cũng quên mệt, lại kể chuyện, lại hát. Giữa núi rừng lạnh giá, tình đồng đội là thứ sưởi ấm chúng tôi nhiều nhất.
Đến năm 1971, đơn vị được lệnh chuyển xuống chiềng Chăn, đóng quân tại Bản Chiềng Chăn, Chăn Nưa. Khi ấy, một trận lũ lớn đã làm hư hại con đường Pa Tần, giao thông bị tê liệt, việc vận chuyển hàng hóa, lương thực cho dân rất khó khăn. Nhiệm vụ của chúng tôi là sửa chữa lại tuyến đường bị lũ phá, khơi thông sạt lở để bà con đi lại. Công việc ấy kéo dài suốt một năm rưỡi.
Những ngày đầu, mưa vẫn chưa dứt, đất bùn trơn trượt, nhiều chỗ xe không thể vào. Chúng tôi vừa làm vừa dựng lán ngay bên đường, ban ngày san đất, ban đêm thay nhau canh chừng lũ. Có người trượt chân ngã, có người bị sốt rét, vậy mà ai cũng cố gắng, chẳng một lời than vãn. Bữa cơm của thanh niên xung phong khi ấy giản dị lắm - cơm độn sắn, muối vừng, đôi khi có thêm chút rau rừng hoặc vài con cá suối. Nhưng được ăn cùng nhau, chia nhau từng miếng cơm, ngụm nước, là thấy ngon miệng lạ kỳ. Chúng tôi hiểu rằng, mỗi hạt cơm, mỗi giọt mồ hôi đổ ra đều góp phần làm nên con đường mới - con đường của niềm tin và hy vọng.
Đến năm 1973, đơn vị lại chuyển lên Điện Biên Phủ, khi đó thuộc tỉnh Lai Châu cũ. Lần này, chúng tôi nhận nhiệm vụ đóng đê và đào ao cá cho ở khu vực Bản Huổi Phà. Công việc tưởng chừng nhẹ nhàng hơn, nhưng thực ra vô cùng nặng nhọc. Chúng tôi phải lội bùn suốt ngày, xúc từng gàu đất nặng trịch, đắp từng mét đê dưới trời nắng chang chang. Nước lạnh ngấm vào người, bàn chân nứt nẻ, bàn tay phồng rộp, nhưng không ai nản chí. Cứ hễ ai mệt, đồng đội lại động viên: “Ráng lên, xong công trình này dân bản có cá ăn, có nước tưới ruộng, vui lắm đấy!”
Bà con dân bản ở quanh đó thương lắm. Họ mang cho chúng tôi gùi ngô, gùi khoai, nắm muối, con cá suối để tiếp sức. Những lúc nghỉ trưa, chúng tôi cùng ngồi dưới tán cây, ăn cơm nắm, nghe bà con kể chuyện bản làng, lòng thấy gần gũi, ấm áp như ở nhà. Tình quân dân khi ấy thật đẹp - giản dị mà chan chứa yêu thương. Thời gian cứ thế trôi.
Đến tháng 3 năm 1974, Thủ trưởng đơn vị giao nhiệm vụ cho tôi hoàn thành công tác, cho phép tôi trở về địa phương để phục vụ Đảng và Nhà nước, ổn định cuộc sống, làm ăn sinh sống tại quê nhà. Ngày chia tay đồng đội, tôi không cầm được nước mắt. Mấy năm trời gắn bó, bao gian khổ, bao kỷ niệm - giờ mỗi người một hướng. Tôi nhớ mãi ánh mắt của anh em, những cái ôm thật chặt, những lời dặn dò chân tình: “Về quê ráng giữ gìn sức khỏe nhé, khi nào có dịp lại lên thăm anh em!” Tôi trở về quê trong niềm xúc động. Quê hương Bản Lang (nay là xã Khổng Lào) khi ấy còn nghèo, nhưng yên bình. Tôi lao vào làm việc, trồng trọt, chăn nuôi, góp phần nhỏ bé của mình vào xây dựng quê hương. Mỗi khi nhìn lại quãng đời Thanh niên xung phong, tôi thấy đó là những năm tháng đáng tự hào nhất của đời mình. Dẫu không có chiến công hiển hách, dẫu chỉ là người góp sức đào đất, đắp đường, nhưng với tôi, được làm việc cho đất nước, được sống trong tình đồng chí, đồng đội, được cống hiến tuổi trẻ - ấy là vinh dự lớn lao. Giờ đây, mỗi khi kể lại cho con cháu nghe, tôi chỉ mong thế hệ trẻ hôm nay hiểu rằng: “Tuổi trẻ dù ở thời nào cũng cần sống có lý tưởng, biết yêu thương, biết cống hiến. Chúng tôi năm xưa chỉ có cuốc, xẻng và lòng tin, mà vẫn làm nên con đường. Còn các cháu bây giờ có tri thức, có công nghệ, hãy dùng nó để xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp hơn”. Tôi khẽ mỉm cười, rót chén trà nóng, nhìn ra con đường uốn quanh ven bản - con đường mà lớp thanh niên hôm nay đang đi, tiếp bước chúng tôi ngày ấy. Trong lòng tôi, ngọn lửa của “Thanh niên xung phong” vẫn cháy, không bao giờ tắt.



