Cựu Thanh niên xung phong

Cựu thanh niên xung phong

Trong những ngày tháng Ba – tháng của tuổi trẻ, tôi có dịp lắng nghe câu chuyện của bác Nguyễn Văn Bình, một cựu thanh niên xung phong từng tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ở tuổi ngoài bảy mươi, mái tóc đã bạc trắng, nhưng khi nhắc về những năm tháng “thời hoa lửa”, ánh mắt bác vẫn ánh lên niềm tự hào và xúc động. Bác Bình tham gia lực lượng thanh niên xung phong năm 1968, khi vừa tròn mười tám tuổi. Đó là thời điểm cuộc kháng chiến chống Mỹ đang diễn ra ác liệt. Không chút do dự, bác vi

Thái Nguyên31/03/2026Phùng An Diệp (K48- NNA8 _ Ngoại Ngữ)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong những ngày tháng Ba – tháng của tuổi trẻ, tôi có dịp lắng nghe câu chuyện của bác Nguyễn Văn Bình, một cựu thanh niên xung phong từng tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ở tuổi ngoài bảy mươi, mái tóc đã bạc trắng, nhưng khi nhắc về những năm tháng “thời hoa lửa”, ánh mắt bác vẫn ánh lên niềm tự hào và xúc động. Bác Bình tham gia lực lượng thanh niên xung phong năm 1968, khi vừa tròn mười tám tuổi. Đó là thời điểm cuộc kháng chiến chống Mỹ đang diễn ra ác liệt. Không chút do dự, bác viết đơn tình nguyện lên đường với một tâm niệm giản dị: “Tổ quốc cần thì thanh niên có mặt”. Những năm tháng ở tuyến lửa Trường Sơn là ký ức không thể nào quên. Bác kể, công việc của thanh niên xung phong khi ấy chủ yếu là mở đường, tải đạn, san lấp hố bom để đảm bảo mạch máu giao thông không bị gián đoạn. Bom đạn có thể ập xuống bất cứ lúc nào. Có những đêm, cả đơn vị vừa lấp xong một hố bom thì máy bay địch lại quay lại ném tiếp. Khói lửa mù mịt, đất đá vùi lấp cả tuổi xuân, nhưng không ai chùn bước. Bác xúc động kể về người đồng đội thân thiết đã hy sinh khi đang làm nhiệm vụ. “Chúng tôi chỉ kịp phủ lên bạn một tấm tăng rồi lại tiếp tục công việc. Đau lắm chứ, nhưng nếu dừng lại thì xe không qua được, hàng không tới được tiền tuyến.” Câu nói ấy khiến tôi lặng người. Hóa ra, phía sau những trang sử hào hùng là biết bao mất mát thầm lặng. Thời chiến tranh thiếu thốn trăm bề. Bữa cơm chỉ có rau rừng, sắn luộc; nước uống phải hứng từ khe suối. Sốt rét rừng hành hạ, nhiều người gầy đi trông thấy. Thế nhưng trong gian khổ, tinh thần lạc quan vẫn luôn rực sáng. Bác kể, mỗi khi rảnh, cả đơn vị lại hát vang những bài ca cách mạng, động viên nhau vượt qua khó khăn. Chính niềm tin vào ngày đất nước thống nhất đã tiếp thêm sức mạnh cho tất cả. Ngày 30/4/1975, khi nghe tin miền Nam hoàn toàn giải phóng, bác và đồng đội ôm nhau bật khóc. Bao nhiêu hy sinh, gian khổ cuối cùng cũng được đền đáp bằng hòa bình. “Khoảnh khắc ấy, chúng tôi hiểu rằng tuổi trẻ của mình đã sống một đời thật ý nghĩa” – bác nói. Lắng nghe câu chuyện của bác Bình, tôi nhận ra rằng thế hệ trẻ hôm nay đang sống trong hòa bình – điều tưởng chừng giản dị nhưng được đánh đổi bằng máu và nước mắt của biết bao người đi trước. “Thời hoa lửa” không chỉ là ký ức chiến tranh, mà còn là biểu tượng của lòng yêu nước, của tinh thần dám hy sinh vì Tổ quốc. Là sinh viên trong thời đại mới, tôi tự nhủ phải sống có trách nhiệm hơn, học tập và rèn luyện thật tốt để xứng đáng với sự hy sinh ấy. Những câu chuyện như của bác Bình không chỉ giúp chúng ta hiểu hơn về lịch sử, mà còn nhắc nhở mỗi người trẻ rằng: hãy sống hết mình cho lý tưởng, cho cộng đồng, để khi nhìn lại, ta cũng có thể tự hào về “thời hoa lửa” của chính mình.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn