Cựu Thanh niên xung phong

Cựu thanh niên xung phong làm theo lời Bác (2)

– Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác Hồ luôn dạy nhiều điều hay, lẽ phải cho nhiều thế hệ, sau này được Đảng đúc kết thành những giá trị về tư tưởng, đạo đức, phong cách và được cán bộ, đảng viên học tập và làm theo. Với ông Nguyễn Anh Nhưỡng, Chủ tịch Hội Cựu Thanh niên xung phong (TNXP) tỉnh, học tập và làm theo lời Bác được ông vận dụng sâu sắc từ những tình cảm mà Bác dành tặng cho lực lượng TNXP Việt Nam với 4 câu thơ: “Không có việc gì khó; Chỉ sợ lòng không bền; Đào núi và lấp b

Lạng Sơn01/04/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Là cán bộ miền xuôi (quê Thái Bình), năm 1963, sau khi tốt nghiệp ngành học Thủy công, Học viện Thủy lợi, tôi được điều động lên Lạng Sơn công tác với sự động viên rằng sau 2 năm sẽ được trở về quê hương, nhưng do lúc đó khó khăn về cán bộ, được cấp trên động viên, tôi đã ở lại Lạng Sơn công tác cho đến khi nghỉ hưu” – Ông Nhưỡng kể.

Từ năm 1964 đến 1970, làm cán bộ kỹ thuật Ty Thủy lợi, ông đã tham gia thi công rất nhiều công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh, góp phần xây dựng hạ tầng cơ sở phát triển kinh tế nông nghiệp Lạng Sơn. Sau 2 năm công tác, ông được kết nạp Đảng khi mới 22 tuổi.

Từ năm 1972 đến giữa năm 1976, khi chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ mở rộng ra miền Bắc, ông được tỉnh điều động làm Đội trưởng Đội TNXP – N57 làm nhiệm vụ đảm bảo giao thông, giải tỏa, bảo vệ hàng hóa ở cảng nổi Lạng Sơn, khắc phục hậu quả máy bay Mỹ bắn phá cầu, đường Lạng Sơn. Ông đã chỉ đạo Đội TNXP-N57 hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được tỉnh đề nghị Nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Ba cho Đội TNXP – N57. Từ năm 1978 đến tháng 4 năm 1979, ông được tỉnh điều động làm Phó Trưởng ban Tổng chỉ huy công trường đường chiến lược Bình Gia- Văn Mịch- Thất Khê dài 58 km.

Ông kể: “Chưa có thời kỳ nào lại gian khổ khó khăn như thời kỳ làm đường chiến lược Bình Gia- Văn Mịch- Thất Khê, với chiều dài toàn tuyến chừng 58 cây số, nhưng lúc đó không có điện, thiếu nước sinh hoạt, thi công chủ yếu bằng thủ công (cuốc, xẻng) và sức người nhưng tôi đã chỉ đạo hơn 1.000 thanh niên chủ lực trên công trường vừa làm nhiệm vụ phá đá mở đường, vừa làm nhiệm vụ phục vụ chiến đấu. Khi chiến tranh biên giới nổ ra (tháng 2/1979), lực lượng trên công trường chuyển sang làm nhiệm vụ tiếp tế lương thực, đạn dược, tải thương binh về phía sau ở mặt trận tiền phương huyện Tràng Định và điểm tựa 820, điểm tựa Đội Cấn”.

Từ tháng 5/1979 đến tháng 3/1994, ông được cử làm Giám đốc Công ty Cầu đường bộ 1 (sau là Công ty Công trình giao thông 1 Lạng Sơn), ông đã cùng tập thể Ban Giám đốc lãnh đạo công ty liên tục hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu kế hoạch của ngành, của tỉnh giao, sản xuất kinh doanh có hiệu quả, xây dựng công ty trở thành đơn vị tiên tiến, toàn diện, là lá cờ đầu trong phong trào thi đua của ngành giao thông vận tải (GTVT) Lạng Sơn kể cả lao động sản xuất, thể dục, thể thao, văn nghệ, học tập bổ túc văn hóa cho công nhân, xây dựng tiểu đoàn tự vệ vững mạnh… được tỉnh đề nghị Nhà nước tặng thưởng 4 Huân chương Lao động (1 hạng Ba, 2 hạng Nhì, 1 hạng Nhất).

Từ tháng 4/1994 cho đến khi nghỉ hưu (năm 2003), ông làm Phó Giám đốc Sở GTVT, Phó Trưởng ban Thường trực Ban An toàn giao thông tỉnh, Trưởng Ban Đổi mới doanh nghiệp của ngành GTVT Lạng Sơn. Ông đã cùng lãnh đạo sở tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ. Và liên tục các năm, ngành GTVT đều hoàn thành các chỉ tiêu, kế hoạch, nhiệm vụ mà tỉnh, Bộ GTVT giao; ngành GTVT cũng là ngành đầu tiên của tỉnh hoàn thành kế hoạch đổi mới, sắp xếp và cổ phần hóa doanh nghiệp; Sở GTVT Lạng Sơn được UBND tỉnh, Bộ GTVT, Ban An toàn giao thông quốc gia tặng cờ thi đua và được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn