Đá Bàn – Quê hương kháng chiến
Đoạn trích ghi lại những ký ức xúc động của tác giả về ngày trở về quê hương Khánh Hòa sau khóa huấn luyện tại Quảng Nam, đồng thời tái hiện cuộc di chuyển căn cứ đầy gian khổ, mưu trí từ Hòn Hèo lên Đá Bàn (giai đoạn 1950-1951). Qua những chi tiết về tình dân nghĩa đảng và sự đồng lòng của đơn vị, tác giả khẳng định tầm quan trọng chiến lược của căn cứ Đá Bàn – nơi đã trở thành điểm tựa vững chắc, "quê hương" nuôi dưỡng tinh thần và lực lượng kháng chiến của tỉnh nhà.
Trở lại Khánh Hòa.
Thời gian trôi đi thật nhanh. Tuổi trẻ năng động và ham nhận biết cái mới đã thực sự hút tâm trí mọi người. Bốn tháng học tập và thực tập - chiến đấu thật say sưa khiến chúng tôi quên hết mọi sự. Thời gian ngắn mà học được nhiều, kỹ năng chiến đấu và bản lĩnh chỉ huy đã được thử thách qua những ngày giáp mặt với quân thù ở một không gian mới, và đoàn học sinh Khánh Hòa chúng tôi vẫn còn nguyên vẹn. Tạm biệt xứ Quảng, chúng tôi lên đường trở lại quê hương trong thanh thản và lưu luyến.
Thanh thản vì đã đi đến nơi, học tập đạt kết quả tốt, có một vốn liếng nhất định để làm ăn lớn.
Lưu luyến vì người và cảnh đất Quảng tuy xa mà gần, lạ mà thân quen. Sự đùm bọc, che chở, giúp đỡ ân tình của nhân dân đất Quảng là nguyên nhân không thể thiếu để chúng tôi lập công. Bao nhiêu chuyện thể hiện tình cảm sâu đậm này đã để lại trong ký ức chúng tôi. Thời gian đoàn thực tập đóng quân ở vùng núi Ái Nghĩa (huyện Đại Lộc) thật là gian nan, vất vả, phần lo ăn hàng ngày, phần lo đối phó với những trận càn bất thần và ác liệt của địch nhằm triệt phá nguồn sống vốn đã thật ít ỏi của vùng bán sơn địa này. Nhưng ở đó chúng tôi vẫn hưởng được hơi ấm của tình dân, lòng dân vùng đồng bằng Gò Nổi - ven hạ lưu sông Thư Bồn, cứ định kỳ lên thăm và cho quà.
Hình ảnh người phụ nữ đeo chiếc giỏ lần vào sát đồn địch để tìm cứu bằng được chúng tôi ở Dương Hỏa thật là sâu sắc. Làm sao lại không thương cảm và lưu luyến khi sắp phải xa mảnh đất có những người con như thế?
Ngày trở về Khánh Hòa thật là một ngày vui - niềm vui của quê hương, bạn bè, người thân sau những tháng xa cách. Anh Nguyễn Xuân Hữu, bí thư tỉnh ủy, anh Phan Văn Đường, tỉnh đội trưởng gặp mặt chúng tôi, hỏi tình hình học, thăm sức khỏe từng người và hy vọng thời gian sắp tới sẽ đón nhận những thành tích của cách đánh đặc công mà chúng tôi vừa học được.
Lý Ba, Sáu Nọ là hai thành viên xuất sắc của đội Cảm tử vi nhiệm vụ phải ở lại, được tin chúng tôi về, các anh cũng có mặt trong buổi đón. Hai anh lần lượt ôm ghì từng người trong đoàn; ôm thật lâu, ghì thật chặt, xa ít tháng mà nhớ muốn khóc.
Các anh trong tỉnh ủy, tỉnh đội được tin đoàn học sinh Khánh Hòa ra Liên khu học tập đạt kết quả tốt, thực tập đánh tan năm đồn bót địch, khi được điện ngoài Khu báo ngày chúng tôi lên đường trở về thì lại càng ngóng trông từng ngày.
Cả đoàn được tỉnh ủy đãi một bữa “tiệc” thật đã: Bắp ngô luộc và thịt lợn cũng luộc nốt, những miếng thịt luộc thái to để trên các đĩa bằng lá chuối rừng. Nhớ lại khi lên đường đi học, trong hành trang mang theo của chúng tôi không có lấy một đồng tiền, một hạt gạo. Hôm nay chúng tôi trở lại, trên “bàn tiệc” đã có thịt Cuộc sống tuy chưa nó đủ, sung túc nhưng đã đủ lương ăn. Chính ở cần cứ Đá Bàn này cơ quan lãnh đạo của tỉnh đã có đủ điều kiện để bám trụ chỉ đạo các lực lượng kháng chiến của tỉnh Khánh Hòa.
Tôi không thể không nói đôi nét về quá trình xây dựng căn cứ Đá Bàn này.
Như đã kể ở trên, tình hình Khánh Hòa trong những năm 1949-1950 là cực kỳ khó khăn. Có thể nói địch đã thành công một phần trong âm mưu chiếm đất giành dân. Lực lượng kháng chiến của ta rất dũng cảm, kiên cường nhưng cũng bị tiêu hao nhiều trong những trận chiến đấu chống địch vây quét. Vùng núi Hòn Hèo là căn cứ kháng chiến đầu não của tỉnh đến lúc này cũng hết vai trò. Tuy là một dãy núi cao hiểm trở, nhưng Hòn Hèo lại nằm lọt vào giữa vùng đồng bằng ven biển, bốn hướng đều có địch. Việc đi lại ra vào nơi đây rất khó khăn, thường xuyên đổ máu vì vướng phải vành đai bao vây phong tỏa dày đặc của kẻ thù. Cuối năm 1950, một đoàn cán bộ lãnh đạo chủ chốt của tỉnh do anh Nguyễn Xuân Hữu, bí thư tỉnh ủy dẫn đầu từ Đá Bàn về căn cứ Hòn Hèo để họp hội nghị tỉnh ủy. Khi đoàn hành quân qua rìa căn cứ Lạc Ninh đã bị địch phục kích. Đồng chí Nguyễn Sắc Kim, chính ủy trung đoàn 803 được Khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu V phái vào đây tăng cường cho Khánh Hòa đã trúng đạn địch hy sinh ngay hôm đó - ngày 20 tháng 1 năm 1951, trước Tết âm lịch một vài ngày. Phải mở lên hướng tây - đến Đá Bàn lập căn cứ mới. Đây là quyết định của tập thể tỉnh ủy, trong đó không thể không nhắc đến công sức góp phần của anh Nguyễn Xuân Hữu, lúc ấy là bí thư. Sự cần thiết vừa cơ bản vừa cấp bách này là phải xây dựng căn cứ địa và hành lang phía tây, tạo thế chiến lược chỉ đạo vững chắc, lâu dài cho tỉnh và huyện, xã. về lý như vậy là thông suốt, nhưng về tình thi biết bao xao xuyến, vấn vương và cả tiếc nuối nữa, nếu như phải xa căn cứ Hòn Hèo. Không ít người đã nêu câu hỏi:
- Không lẽ chúng ta bỏ mặc đồng bào Hòn Hèo mà đi sao?
| Đi để xây dựng căn cứ Đá Bàn và hành lang phía tây! Cái khó mới lại được đặt ngay sau đó, là đội hình hành quân với hàng ngàn con người, gồm đủ thành phần nam phụ lão ấu di chuyển qua bao hệ thống đồn bót địch làm sao bảo đảm an toàn đi tới đích không rơi rớt! Đường hành quân phải qua vùng trắng và nhất thiết phải qua vùng chiến lược: đường số 1, đường sắt Ninh Hòa - Hòn Khói, là những nơi không thể dừng lại nghỉ chân. Lại nữa phải thực hiện bí mật, hành động phải nhanh và gọn, không cho địch kịp trở tay và nếu địch phát hiện cũng phân tán sự chú ý của chúng, khiến chúng không đoán định được bộ phận chính của ta đi hướng nào... Tất cả những khó khăn của cuộc hành quân dược nêu ra cụ thể và được bàn bạc cách giải quyết cho từng khó khăn cụ thể. Việc di chuyển đi theo hai hướng: - Hướng thứ nhất, toàn bộ cơ quan Mặt trận (thanh niên, phụ nữ, nông hội) do đồng chí Mai Hương phụ trách xuống thuyền đi theo đường biển vượt qua thị xã Nha Trang vào tây huyện Diên Khánh lo xây dựng căn cứ Đồng Găng, chỉ đạo xây dựng căn cứ các huyện thị phía nam, đồng thời trực tiếp chỉ đạo phong trào đồng bằng phía nam. Cuộc đi thật mạo hiểm, khi vượt biển vào đất liền bị địch phục kích, đồng chí Hồ Xưa và Diên, đại đội trưởng đã hy sinh. Nhưng đại bộ phận đã vào được Đồng Găng. - Hướng thứ hai gồm văn phòng tỉnh ủy, văn phòng ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh, các ty trực thuộc ủy ban theo đường bộ lên Đá Bàn. Đây là đội hình chính của cuộc di chuyển. Quãng đường tuy ngắn nhưng rất nguy hiểm. Đội hình hành quân sắp xếp hợp lý, già trẻ, khỏe yếu xen kẽ; hành lý mang theo gọn nhẹ, chằng buộc chắc chắn; tất cả, không phân biệt một ai, phải đi trong hai mười bốn giờ liền, không dừng nghỉ ở bất cứ noi đâu - dù chỉ năm mười phút để tranh thủ tối đa thời gian và không gian an toàn. Còn một hướng nữa, được xem như là hướng thứ ba nhưng không nằm trong kế hoạch chung. Đó là hướng di chuyển của anh Nguyên Xuân Hữu và một bộ phận nhỏ đi cùng với anh. Anh trực tiếp giao cho tôi nhiệm vụ đưa đơn vị lên Ninh Tịnh (đông - nam Hòn Hèo) và chờ ở đó đợi lệnh cụ thể. Đội Cảm tử đến Ninh Tịnh vào lúc bốn giờ chiều, trước thời gian anh Hữu quy định. Khoảng một giờ sau thì anh Hữu đến. Sau khi phát lệnh cho hai cánh quân kia lên đường, từ Đầm Vân anh băng qua rừng đông - nam Hòn Hèo tới đây. Lúc ấy khoảng năm giờ chiều, mặt trời đã lặn sau dãy núi Phượng Hoàng, súng địch bao vây phong tỏa khu Hòn Hèo thưa dần và ngoài khơi các tàu tuần tiễu chặn phía đông đã bỏ neo. Tôi chưa kịp báo cáo thì anh Hữu đến gần, siết chặt tay tôi, hỏi liền: - Anh em đã sẵn sàng chưa? - Dạ, đã. - Ta đi ngay thôi! - Theo hướng nào? - Tôi hỏi lại. - Về Đá Bàn. Anh không nói gì thêm, nhưng tôi tự hiểu và xác định với anh em trong đội Cảm tử là chúng ta có nhiệm vụ bảo vệ đồng chí bí thư tỉnh ủy về căn cứ mới. Chúng tôi xốc lại đội hình. Toàn đội chia thành hai tổ: Tổ tiền vệ, tổ hậu vệ, đoàn anh Hữu đi giữa. Lợi dụng lúc tranh tối tranh sáng chúng tôi di chuyển đội hình ngay, men theo sườn bắc thôn phước Sơn, lại qua Hô Vông, Tân Kiều - những địa danh đội Danh dư đã giáp trận những ngày đầu, rồi vượt qua đường số 1 ở đoạn đèo Bánh ít. Đêm xuống nhanh, trời ập tối lại lọt vào giữa một khu vực phòng thủ của địch, buộc mọi người phải vắt óc, căng mắt căng tai ra để định hướng đi, để nghe ngóng động tĩnh, đề phòng chạm địch phục kích, tuần tiễu, tránh đạp phải bãi mìn, không kể các loạt đạn địch bắn vu vơ ra tứ phía để dọa nạt, răn đe. Suốt một đèm mò mẫm, len lỏi đoàn chúng tôi đến Đá Bàn thì vừa sáng. Trời đầy sương. Cảnh vật như chìm trong biển mây vừa huyền ảo vừa thơ mộng. Tiếp sau là đội hình chính của cuộc di chuyển cũng có mặt, đầy đủ không vắng một ai. Cuộc di chuyển cơ quan đầu não lên căn cứ mới trót lọt - như một trận đánh lớn đã kết thúc thắng lợi. Đá Bàn - cái tên thật tượng hình, nên thơ, nhưng ở đây chỉ là cảnh rừng âm u, thú rừng dữ dằn, muỗi rừng độc địa... kẻ địch ít khi dám lùng sục tới, địa thê hiểm trở rất thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ. Từ ngày cơ quan tỉnh lên đây, mới qua hai mùa phát rẫy, chẳng những đã tự túc được lương thực mà còn dự trữ đủ nuôi một trung đoàn đi làm nhiệm vụ phía trước. Tại căn cứ còn có cả một xưởng in, chiếc máy in nặng hàng tấn phải bốn mươi người khiêng, gánh các bộ phận tháo rời đưa từ vùng tự do liên khu V vào, nhờ đó mà báo chí, tin tức, truyền đơn, tranh áp phích và các sáng tác thơ văn của tỉnh in rõ, đẹp, được truyền bá khắp noi, lưu hành cả ở vùng địch tạm thời kiểm soát... Đá Bàn - cái thung lũng rộng cỡ chừng hai trăm cây số vuông, có núi Mẹ Bồng Con, có con sông nước lúc nào cũng đầy ắp trong xanh chảy qua, hai bờ có nhiều tảng đá to, bằng mặt như những chiếc bàn (không biết có phải vì thế mà gọi nơi đây là Đá Bàn không?) - đã trở thành một căn cứ vững chắc của tỉnh, là quê hương kháng chiến của chúng tôi, những người con của tỉnh Khánh Hòa. |



