Đà Nẵng 1858 - Tiếng súng đầu tiên và bản hùng ca kháng Pháp
“Đà Nẵng 1858 - Tiếng súng đầu tiên và bản hùng ca kháng Pháp”
Trong suốt chiều dài lịch sử giữ nước, Đà Nẵng luôn giữ vị trí là mảnh đất 'đầu sóng ngọn gió', là cửa ngõ chiến lược quyết định vận mệnh của đất nước. Chính tại vùng biển này vào mùa thu năm 1858, khi hạm đội viễn chinh của liên quân Pháp - Tây Ban Nha nã những loạt súng thần công đầu tiên vào bán đảo Sơn Trà, một trang sử bi tráng và hào hùng đã chính thức mở ra. Đó không chỉ là thời điểm bắt đầu của cuộc đụng đầu lịch sử giữa một dân tộc yêu tự do với thực dân hung bạo, mà còn là nơi rực cháy tinh thần quật khởi của quân dân ta ngay từ những giờ phút đầu tiên của cuộc kháng chiến. Cuộc chiến đấu tại mặt trận Đà Nẵng (1858 - 1860) mãi mãi là minh chứng cho ý chí sắt đá và bản lĩnh không lùi bước của nhân dân Quảng - Đà trong nỗ lực bảo vệ toàn vẹn non sông.
Cuộc nổ súng xâm lược tại cửa biển Đà Nẵng năm 1858 không phải là một sự kiện ngẫu nhiên, mà là hệ quả tất yếu của những biến động lịch sử sâu sắc trên phạm vi toàn cầu và thực trạng đầy bất ổn của Việt Nam lúc bấy giờ. Bước vào giữa thế kỷ XIX, thế giới rung chuyển trước làn sóng bành trướng mạnh mẽ của chủ nghĩa thực dân phương Tây. Sau cuộc cách mạng công nghiệp, các cường quốc tư bản, đặc biệt là Pháp, ráo riết tìm kiếm thị trường, nguồn nguyên liệu và nhân công rẻ mạt tại phương Đông để phục vụ bộ máy sản xuất đang phát triển vũ bão. Mượn cớ bảo vệ giáo sĩ và đáp lại chính sách cấm đạo của triều đình Huế, thực dân Pháp đã liên minh với Tây Ban Nha, lợi dụng hạm đội viễn chinh hùng hậu vừa giành thắng lợi tại Trung Quốc để chuyển hướng tấn công Việt Nam. Trái ngược hoàn toàn với sự chuyển mình mãnh liệt của quốc tế, Việt Nam dưới triều Nguyễn lúc bấy giờ lại đang lún sâu vào cuộc khủng hoảng trầm trọng. Chính sách 'Bế quan tỏa cảng' cứng nhắc không chỉ cô lập đất nước khỏi những tiến bộ khoa học - kỹ thuật của nhân loại mà còn khiến nền kinh tế sa sút, lòng dân ly tán bởi sưu cao thuế nặng và mất mùa triền miên. Về quân sự, sự chênh lệch càng trở nên nghiệt ngã khi quân đội triều đình vẫn duy trì tư duy phòng thủ lạc hậu với vũ khí thô sơ, đối đầu với hỏa lực tối tân từ các chiến hạm vỏ thép của phương Tây.
Chính trong bối cảnh 'trong ngoài đều khó' ấy, Đà Nẵng đã được chọn làm mục tiêu chiến lược để thực dân thực hiện kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh, đẩy dân tộc ta vào một cuộc thử thách sống còn trước cơn lốc xâm lược. Chọn Đà Nẵng để tấn công có nhiều nguyên do, chủ yếu bởi Đà Nẵng là cửa biển có vị trí chiến lược quan trọng - “yết hầu” gần kinh đô Huế, cảng biển sâu, kín gió, tàu chiến Pháp có thể vào được… Thực dân Pháp tính toán rằng, chỉ cần chiếm được Đà Nẵng, sẽ tạo bàn đạp để đánh thẳng ra Huế, buộc triều đình nhà Nguyễn phải đầu hàng nhanh chóng.
Sáng ngày 01/09/1858, thực dân Pháp gửi tối hậu thư đòi Trấn thủ Đà Nẵng là Trần Hoàng trả lời trong vòng 2 giờ. Nhưng không đợi hết hạn, liên quân Pháp - Tây Ban Nha đã nổ súng tấn công vào bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), pháo kích đồn Nại Hiên, Điện Hải, An Hải… Dù bị đánh bất ngờ và dữ dội, lực lượng phòng thủ của triều đình ngay từ phút đầu đã chống trả quyết liệt. Tuy nhiên, với vũ khí tối tân, liên quân Pháp - Tây Ban Nha nhanh chóng chiếm được bán đảo Sơn Trà.
Được tin mất bán đảo Sơn Trà, triều đình Huế lo sợ, vội cách chức Trấn thủ Trần Hoàng và cử Hữu quân đô thống Lê Đình Lý cùng tham tri bộ Hộ Phạm Khắc Thân đem 2.000 quân ứng cứu. Đồng thời, cử Tham tri Nội các Nguyễn Duy vào chỉ huy lực lượng quân triều đình đóng ở Quảng Nam.
Sau khi chiếm được Sơn Trà, địch tiến sâu vào nội địa và đánh tan phòng tuyến của quân triều đình ở xã Mĩ Thị, chiếm xã Cẩm Lệ. Tại đây, Lê Đình Lý chỉ huy chống trả kịch liệt, bị thương và thất bại. Tin cấp báo về Huế, triều đình liền cử Chu Phúc Minh thay Lê Đình Lý và giao Kinh lược sứ Nguyễn Tri Phương làm Tổng thống quân thứ Quảng Nam, chỉ huy toàn bộ mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng.
Tại mặt trận Đà Nẵng, Nguyễn Tri Phương cho đắp lũy chạy dài từ bờ biển vào phía trong để bao vây địch ngoài mé biển (Phòng tuyến Liên Trì), chặn không cho quân Pháp tiến sâu vào nội địa. Đồng thời, Nguyễn Tri Phương ra lệnh thực hiện “vườn không nhà trống”, cho dân tản cư để khỏi bị địch bắt đi lính, nộp lương thực hay cung cấp tin tức. Chiến thuật này đã đem lại hiệu quả.
Nhiều lần liên quân Pháp - Tây Ban Nha tìm cách đánh sâu vào đều bị quan quân triều đình đánh bật trở lại, và bị thiệt hại nặng nề. Kết quả là sau 5 tháng chiến tranh, liên quân Pháp và Tây Ban Nha chỉ chiến được bán đảo Sơn Trà và đồn An Hải, án ngự phía nam sông Hàn. Trong khi đó, khó khăn của chúng mỗi ngày một tăng thêm: do không hợp khí hậu nên binh lính địch bị ốm đau và chết khá nhiều trong khi thuốc men lại thiếu; tiếp tế thực phẩm cho quân lính rất khó khăn. Tiến lui đều khó, cuối cùng Đô đốc Rigault De Genouilly quyết định chỉ để lại Đà Nẵng một lực lượng quân sự nhỏ để cầm chân quân đội triều đình, và kéo toàn bộ quân Pháp và Tây Ban Nha vào đánh Gia Định (2/1859). Kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của Pháp bị thất bại ở Đà Nẵng.
Cuộc kháng chiến tại Đà Nẵng giai đoạn 1858 - 1860 là minh chứng đanh thép cho bản lĩnh và ý chí giữ vững độc lập chủ quyền của dân tộc Việt Nam ngay từ những giờ phút đầu tiên đối mặt với thực dân phương Tây. Dấu ấn mang tính bước ngoặt của cuộc chiến đấu này là việc phá sản hoàn toàn âm mưu “đánh nhanh thắng nhanh”, buộc của liên quân Pháp - Tây Ban Nha rơi vào tình trạng sa lầy và bế tắc trên bán đảo Sơn Trà trong thời gian dài. Thắng lợi đó gắn liền với sự quyết đoán và tầm nhìn quân sự của các nhà chỉ huy, tiêu biểu là danh tướng Nguyễn Tri Phương, người đã kiên trì thực hiện chiến lược phòng thủ tích cực, biến các cứ điểm liên hoàn thành một bức tường thép ngăn chặn con đường tiến vào kinh đô. Song hành cùng quân đội triều đình là sức mạnh tiềm tàng của nhân dân Đà Nẵng với tinh thần quật khởi mãnh liệt; từ những đội nghĩa dũng tự nguyện cầm vũ khí đến những người dân thường thực hiện chính sách 'vườn không nhà trống' triệt để, cắt đứt hoàn toàn nguồn tiếp tế, khiến kẻ thù kiệt quệ về sinh lực. Sự đồng lòng giữa quân và dân đã nâng tầm cuộc kháng chiến tại Đà Nẵng thành biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, khẳng định rằng sức mạnh của lòng dân chính là phòng tuyến kiên cố nhất, biến nơi đây thành điểm chặn đứng tham vọng xâm lược bước đầu của thực dân Pháp, để lại bài học vô giá về sự gắn kết dân tộc trong sự nghiệp bảo vệ đất nước.



