ĐÀ NẴNG – 29/3/1975: GIỜ PHÚT TRỞ VỀ CỦA MÀU CỜ GIẢI PHÓNG
Đến bây giờ, mỗi khi nhắc về buổi sáng 29/3/1975, những người lính của Sư đoàn 2, Sư đoàn 304, Trung đoàn 31, 38 Trâu Điên… vẫn kể lại bằng thứ giọng vừa dồn dập, vừa nghẹn lại như còn nguyên bụi đỏ chiến trường trong lồng ngực. Đà Nẵng, thành phố lớn thứ hai miền Nam khi ấy, gần như đã chìm trong hỗn loạn: hàng vạn người kéo về phía cảng Tiên Sa, phía sân bay, phía quốc lộ. Tiếng gào thét, tiếng xe nổ máy, tiếng đạn pháo rít qua mái nhà. Trời xám, gió biển mằn mặn, khét nồng mùi khói.
Một chiến sĩ Sư đoàn 2 – bác Nguyễn Văn Hộ, nay hơn bảy mươi tuổi – nhớ lại:
“Khi chúng tôi tới dưới chân đèo Hải Vân, thành phố phía xa như chìm trong bụi mù. Khói đặc quánh. Nhưng lạ thay, cái bụi đó lại giống như một tấm màn đang mở ra… giống như Đà Nẵng đang run lên, đợi bàn tay mình chạm đến.”
Cả tuyến phòng thủ của đối phương tan rã chỉ trong ba ngày trước đó. Từ Điện Bàn, Duy Xuyên, Hội An đến Hòa Vang – tất cả sụp đổ dây chuyền. Nhưng điều đó không làm con đường tiến vào Đà Nẵng bớt khốc liệt. Trên quốc lộ 1, từng đoàn người chạy loạn tràn ngược chiều đổ về hướng Nam, có người vừa đi vừa khóc, có người gào lên: “Họ bỏ chạy hết rồi! Thành phố sắp nổ tung rồi!”
Những người lính Bắc tiến phải vừa chạy bộ, vừa cõng trẻ nhỏ, dìu người già, vừa tránh những hố bom còn bốc khói. Một chiến sĩ thuộc Đại đội Trinh sát kể:
“Có lúc tôi đứng lại, nhìn từng tia bụi mờ trắng xóa bay táp vào mặt. Tôi hiểu vì sao sau này người ta gọi ngày 29/3 là ngày Đà Nẵng chìm trong ‘mưa bụi’. Đạn pháo vừa ngớt, bụi nhà, bụi đường, cả bụi từ dòng người chạy loạn hòa vào nhau. Cả thành phố như đang thở bằng bùn đất.”
Đến Túy Loan, nơi được xem như “cửa ngõ phía Tây” vào Đà Nẵng, một cảnh tượng dữ dội diễn ra. Cầu rung bần bật dưới chân vì người, xe, cả những toán lính đối phương đang vứt súng tháo chạy. Trong âm thanh hỗn độn, lời khẩu lệnh của Trung đoàn 31 được truyền thành một chuỗi âm thanh sắc lạnh, vang dội như sấm:
“BẮT BUỘC GIỮ CẦU! QUYẾT KHÔNG ĐỂ SẬP!”
Một cựu chiến binh kể lại:
“Khi vượt qua cầu Túy Loan, tôi nghe ai đó hét lên giữa tiếng súng: ‘Bỏ chạy à? Không! Đến đây là không chạy nữa!’. Tôi không biết là ai, chỉ nhớ giọng rất trẻ. Đó là lúc tôi nhận ra: không phải chúng tôi đang chiếm một thành phố. Chúng tôi đang níu lại cả một miền quê, đang giữ lấy nhịp tim của hàng trăm ngàn con người.”
Tiến thêm 10km nữa là Cầu Đỏ – điểm ngăn cuối cùng trước khi tràn vào trung tâm Đà Nẵng. Đây cũng là nơi nhiều tư liệu ghi lại rằng Bộ đội ta chỉ mất 17 phút để đánh tan tuyến cố thủ cuối cùng. Một chiến sĩ thuộc Tiểu đoàn 7 kể lại trong hồi ức:
“Đạn bay chéo mặt, nóng rát. Khi vượt cầu, tôi nghe tiếng anh đại đội trưởng hét lớn: ‘Qua cầu là vào thành phố rồi! Ráng lên em ơi!’”
Những câu nói ấy đến giờ vẫn còn được truyền lại trong nhiều buổi gặp mặt cựu chiến binh.
Khoảnh khắc chuyển từ ngoại ô vào lòng Đà Nẵng là một sự thay đổi đột ngột. Nếu ở phía ngoài là khói lửa, đổ nát, tiếng khóc xen tiếng pháo, thì đến gần trung tâm – không hiểu vì sao – tiếng súng bỗng thưa dần. Chỉ còn những tiếng nổ lác đác, rồi im bặt.
Nhiều nhân chứng kể rằng thành phố lúc ấy… yên đến rợn người.
Phường Thanh Khê – nơi các đơn vị Sư đoàn 304 đầu tiên tràn vào – chỉ còn vài con chó đói chạy giữa đường. Những chiếc xe jeep, xe GMC bị bỏ lại, cửa mở toang, máy vẫn nổ khùng khục. Trong sân ga, hàng trăm vali, túi xách, chăn màn… vứt ngổn ngang, như dấu tích của một cuộc tháo chạy tuyệt vọng.
Nhưng rồi, sự im lặng ấy tan ra ngay khi những tốp lính giải phóng đầu tiên rẽ vào đường Ông Ích Khiêm.
Một phụ nữ – theo tư liệu Phòng Lưu trữ Thành ủy Đà Nẵng – là bà Nguyễn Thị Lựu đã bật khóc khi nhìn thấy cờ giải phóng, vừa khóc vừa chạy theo đoàn quân mà lặp lại mãi một câu:
“Vậy là thiệt rồi hả con? Mấy đứa vô thiệt rồi hả?”
Một cụ già khác đứng trước nhà số 122 đường Hoàng Diệu, tay run run chạm lên vai một chiến sĩ, nói chậm rãi từng chữ:
“Tưởng không còn sống tới ngày ni…”
Từ đó trở đi, sự im lặng của thành phố như một con đê bị vỡ.
Từng lớp người ùa ra từ các ngõ nhỏ, từ nhà thờ, chùa chiền, từ cả những hầm tránh pháo tự đào dưới đất. Người vẫy khăn, người dang hai tay, người òa khóc. Có người vừa chạy vừa hô:
“Giải phóng rồi! Giải phóng rồi!”
Tiếng hô như một luồng điện chạy khắp thành phố.
Trên đường Bạch Đằng, nơi gió sông Hàn thổi ù ù, những người lính đã đi gần như kiệt sức suốt chặng đường dài reo lên khi thấy lá cờ lớn được ai đó nhanh tay treo lên ban công một ngôi nhà ba tầng. Một chiến sĩ kể:
“Tôi cảm tưởng như cả Đà Nẵng sáng bừng chỉ vì mảnh vải đỏ ấy.”
Khoảng 10 giờ 30 phút, lực lượng ta chiếm được Bộ tư lệnh Quân đoàn 1 Ngụy, rồi tiến thẳng vào sân bay Đà Nẵng. Những chiếc trực thăng còn nguyên xăng nằm dài như những con thú bị bỏ quên, cánh quạt lỏng thỏng. Cảnh tượng ấy cho thấy sự sụp đổ hoàn toàn của chế độ cũ.
Đến 11 giờ 30, thành phố về cơ bản đã hoàn toàn nằm trong tay quân giải phóng. Không tiếng súng, không còn bom, không còn tiếng người gào chạy loạn. Dòng người từ Tiên Sa cũng dừng lại. Như có ai xoa dịu cả Đà Nẵng cùng lúc.
Và rồi… niềm vui vỡ tung.
Từ chợ Hàn, chợ Cồn, từ dãy nhà quanh Nhà thờ Chính tòa, từ công viên bờ sông, từ những ngôi trường mà học trò chưa kịp chạy… người dân đổ xuống đường đông như nước vỡ bờ. Người nhỏ ôm người lớn, người lớn cõng trẻ con lên vai. Tiếng reo, tiếng cười, tiếng khóc hòa làm một đến mức không ai phân biệt được.
Bác Trần Văn Ninh, nhân chứng năm ấy 23 tuổi, kể trong buổi phỏng vấn năm 2015:
“Không có từ nào tả được. Mùi khói vẫn còn, bụi còn bay lởn vởn, xác xe cháy đen nằm bên vệ đường… nhưng trên mặt ai cũng là nụ cười. Tôi thề là tôi chưa bao giờ thấy Đà Nẵng đẹp như ngày hôm đó.”
Một chiến sĩ Sư đoàn 304 nhớ lại cảnh tượng trước chợ Hàn:
“Có bà cụ nắm tay tôi, tay run bần bật mà nói: ‘Tụi bây vô rồi, tụi bây vô rồi… Đà Nẵng thoát chết rồi con ơi’. Nói xong bà ôm lấy tôi, mặt bà nóng hổi nước mắt. Tôi đứng chết trân. Lúc đó tôi mới hiểu: không phải chúng tôi giải phóng một thành phố. Người dân mới là người giải phóng chính chúng tôi khỏi bao nhiêu nỗi sợ trên đường hành quân.”
Đầu giờ chiều, lá cờ lớn được kéo lên trên đỉnh tòa thị chính cũ. Khoảnh khắc ấy, theo miêu tả của nhiều nhân chứng, là khoảnh khắc cả thành phố như đứng lại. Gió biển thổi tung lá cờ đỏ, ánh nắng vỡ ra trên những mảng tường loang lổ.
Và rồi, từ phía Cầu Rồng ngày nay, tiếng loa phóng thanh vọng về:
“ĐÀ NẴNG ĐƯỢC GIẢI PHÓNG HOÀN TOÀN!”
Một tiếng reo bật lên như núi lở.
Trên bãi biển Mỹ Khê, nơi buổi sáng còn đầy xác xe và dấu chân người chạy loạn, chiều hôm ấy lác đác từng tốp thanh niên ra đứng nhìn thành phố. Họ đứng rất lâu, lặng im, như muốn khắc cái cảnh ngày hôm đó vào trong tim. Những ngôi nhà cháy dở, những mảng tường sụp, những toa xe đổ chỏng chơ… nhưng cũng là những giọt nước mắt của ngày hồi sinh.
Nhiều chiến sĩ kể rằng hoàng hôn 29/3/1975 là một trong những buổi chiều kỳ lạ nhất đời họ:
“Nắng vàng rực chiếu lên những mái nhà xám đen vì khói. Thành phố như một người vừa đi qua cơn bão, áo quần tả tơi, nhưng đôi mắt sáng rực.”
Và rồi, khi màn đêm buông xuống, Đà Nẵng lần đầu tiên sau nhiều năm không nghe tiếng bom rơi. Người ta mở cửa, nhóm bếp, nấu cơm cho bộ đội. Nhiều gia đình nấu nồi cơm đầu tiên trong nhiều ngày, chia từng bát cho những người lính còn đang bám chốt quanh sân bay, quanh bờ sông.
Một bác cựu chiến binh kể lại:
“Tôi nhớ nhất là bát nước chè nóng mà một cô gái dúi vào tay mình. Cô ấy nói: ‘Mạ biểu đem ra cho mấy anh. Uống cho ấm’. Bát nước chè ấy… tôi nhớ hoài. Nó có mùi của hòa bình.”
Đêm ấy, Đà Nẵng ngủ trong sự yên tĩnh mà chính người dân khi ấy cũng không tin nổi. Một thành phố vừa trải qua hoảng loạn, vừa run rẩy trong bụi lửa… giờ bình yên đến lạ. Trẻ con ngủ trên tay mẹ, tiếng sóng biển vỗ nhẹ như lời ru.
Và đó chính là ngày 29/3/1975 – ngày Đà Nẵng thực sự thức dậy.
Thức dậy khỏi chiến tranh.
Thức dậy khỏi những ngày chia cắt.
Thức dậy để bước vào trang mới nhất trong lịch sử của mình – trang mà mỗi người dân Đà Nẵng cho đến hôm nay, mỗi khi nhắc lại, đều cảm thấy tự hào đến gai người.



