Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Đặc công 1960 - 1965: Xây dựng thế trận lòng dân

Đoạn trích ghi lại giai đoạn chuyển mình quan trọng của lực lượng Đặc công (1960 - 1965) tại miền Bắc nhằm đáp ứng yêu cầu cấp bách của chiến trường miền Nam. Tác giả tái hiện quá trình huấn luyện khắc nghiệt và đầy sáng tạo: từ việc học lái xe tăng, nhảy tàu lửa đến việc nghiên cứu tỉ mỉ các chiến lệ thực tế như trận Tua Hai hay vụ đánh nhà hàng Mỹ Cảnh. Điểm độc đáo nhất là phương pháp "mô phỏng địa hình", khi các đơn vị được đưa về những vùng quê miền Bắc có cảnh sắc tương đồng với Đông Nam

Lai Châu25/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Vào những năm đầu của thập kỷ sáu mưoi, dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, cả miền Bắc nước ta hăm hở bước vào thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội với một niềm tin thật mãnh liệt. Nhưng ở miền Nam đế quốc Mỹ lại nhảy vào thay chân Pháp, chủng dựng lên chính quyền bù nhìn Ngô Đình Diệm, phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ. hò hét lấp sông Bến Hải, chuẩn bị “Bắc tiến”.

Nhiệm vụ cách mạng ở miền Nam đang đặt ra những vấn đề cấp bách. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã xác định: “Con đường phát triển cơ bản của cách mạng miền Nam là dùng bạo lực...”. Cũng bởi có tầm nhìn xa của Đảng mà ngay từ những ngày đầu ra Bắc tập kết, tất cả các cán bộ, chiến sĩ đặc công được lệnh thu gom, tổ chức thành hai tiểu đoàn hoàn chỉnh:

- Tiểu đoàn đặc công thứ nhất mang phiên hiệu số 5 do anh Tạ Văn Tạo làm tiểu đoàn trưởng gồm các chiến sĩ quê Nam Bộ.

- Tiểu đoàn đặc công thứ hai mang phiên hiệu số 323 do anh Châu Khải Địch làm tiểu đoàn trưởng gồm các chiến sĩ quê ở Khu V.

Lúc đầu một số chiến sĩ đặc công của tiểu đoàn 5 chuyển ngành ra ngoài tham gia xây dựng kinh tế, nhưng sau đó được lệnh trở lại quân đội tham gia huấn luyện theo yêu cầu mới một cách có hệ thống để trở lại chiến trường quen thuộc - chiến trường B.21

Những hoạt động của các đơn vị đặc công tập kết ra Bắc hàng ngày cũng huấn luyện, diễn tập dã ngoại như các đơn vị khác trong toàn quân; cũng thi đua xây dựng quân đội theo phương hướng tiến lên chính quy, hiện đại với đối tượng tác chiến mới; nhưng mọi hoạt động trên đều bám sát theo yêu cầu của chiến trường.

Năm 1960, sau khi tiểu đoàn đặc công 323 lên đường theo tiếng gọi sôi động của chiến trường Khu V và Tây Nguyên, Bộ liền chỉ thị thành lập gấp tiểu đoàn đặc công 30. Tôi được chỉ định giữ chức tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn này với nhiệm vụ: Sau khi huấn luyện xong sẽ cùng tiểu đoàn vào Nam chiến đấu. Ngoài nhiệm vụ chung, chúng tôi còn có nhiệm vụ phối hợp cùng các đơn vị bộ binh đánh bại cái gọi là chiến thuật “thiết xa vận” mà Mỹ đang thi thố ở chiến trường B.2 và vùng đồng bằng Khu V.

Được định hướng rõ ràng, chúng tôi khẩn trương bắt tay vào việc. Tôi dẫn một bộ phận lên vùng gò đồi thuộc tỉnh Vĩnh Phú, học cách sử dụng xe tăng (chủ yếu là học lái). Bộ phận thứ hai theo đường sô 5 xuống Hải Phòng học cách nhảy tàu lửa và cắt toa.

Phần vì trách nhiệm gương mẫu của người chỉ huy, phần vì tuổi trẻ hăng hái, ham hiểu biết, mong đạt điểm cao trong học tập để được đi chiến đấu, chứ không muốn ở lại làm nhiệm vụ huấn luyện, nên tôi rất chăm học, ham thực hành. Ngoài học lái tăng, tôi tranh thủ học cả lái ô tô. Khi đã bập bẹ biết điều khiển cho xe lăn bánh, thì hễ trông thấy xe nào đỗ là chỉ muốn trèo vào buồng lái, mở khóa, rú ga cho xe chạy.

Do sự quá hăng hái đó mà một chuyện đã xảy ra. Tôi đã lái chiếc xe xi-tec ra sông lấy nước, do chưa có kinh nghiệm đã để xe lao đầu xuống bến. Đầu xe chúi xuống bắt đầu ngập nước nhưng tôi vẫn tỉnh táo nhanh chóng quay thật mạnh cho phần kính ở hai cửa buồng lái tụt xuống để nước ngoài tràn vào ca bin. Đợi cho mực nước trong buồng lái và ngoài sông bằng nhau, tôi nằm ngửa rồi từ từ lách đầu ra khỏi buồng lái. Anh em đứng trên bờ đang hồi hộp theo dõi tôi một cách lo lắng, nhưng vừa thấy tôi nhô lên khỏi mặt nước, cạnh thành phải của ô tô, thì tất cả hân hoan reo mừng. Anh em đã khen tôi lanh trí, nếu để chậm, áp suất nước bên ngoài tăng lên, lúc đó có muốn mở cửa kính cũng đành chịu. Và như thế chẳng khác nào tự mình ngồi trong cái máy lặn mà không có dưỡng khí, tránh sao khỏi chết ngạt trước khi no nước. Bài học này đúng là chẳng ai lên lóp giảng giải, mà chỉ là ngồi nghe lỏm kinh nghiệm của anh em lái xe truyền cho.

Chỉ một thời gian ngắn, cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn 30 đã vượt qua bao khó khăn của thời tiết, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ huấn luyện để sau đó - vào cuối năm 1961, tất cả đều thanh thản và tự tin nhận lệnh lên đường.

Riêng tôi chưa được lệnh lên đường cùng anh em mà phải ở lại tiếp tục công tác huấn luyện đợt mới. Mỗi lần kết thúc huấn luyện, tiễn đưa đồng đội lên đường là trong tôi lại trỗi dậy cái tình cảm bồi hồi, xao xuyến! Mỗi lần cán bộ, chiến sĩ đặc công nhận lệnh bổ sung cho tiền tuyến lớn miền Nam, thì mối quan hệ giữa người ra đi và người ở lại càng khăng khít thêm lên, trách nhiệm thêm lên. Giữa nhiệm vụ chiến đấu ở trong đó với nhiệm vụ xây dựng - huấn luyện ở ngoài này cứ thế mà gắn bó thúc đẩy nhau tiến lên, như có một thỏa thuận giao ước thi đua ngầm. Mỗi bước đi, mỗi thắng lợi, mỗi thăng trầm nào trong đó, kể cả những biến thiên của cá nhân (ai vào đó phát triển thuận lợi, ai gặp khó khăn chung và cả chuyện riêng tư; ai còn, ai mất...) đều được đưa ra trao đổi với ngoài này bằng nhiều con đường thông tin liên lạc. Ngược lại, những nét phát triển mới về chiến thuật, kỹ thuật, về trang bị vũ khí dù nhỏ cũng được thông báo vào trong ấy.
Ngày ấy, vào các năm 1960 - 1965, bạn đọc có lúc phấn khởi khi đọc báo, nghe đài được biết “Quân giải phóng miền Nam” đánh thắng giòn giã trận Tua Hai (Tây Ninh); phá nhà hàng Mỹ Cảnh (Sài Gòn) nơi nhân viên tình báo Mỹ (CIA) đang tới đó ăn nhậu. Còn với chiến sĩ đặc công chúng tôi lại phải có nhiệm vụ hiểu rõ các tình tiết của những trận đánh này. Chẳng hạn, ngoài bộ binh ra, còn có đại đội 60 đặc công của Đông Nam Bộ tham gia trận đánh Tua Hai, trong đó tổ ba người do Ngô Minh Trị1 - một chiến sĩ đặc công đã sử dụng thành thạo kỹ thuật tác chiến đặc công đánh trúng vào sở chỉ huy trung đoàn 5 thuộc sư đoàn 7 ngụy. Chúng tôi không dừng lại ở con số thắng lợi như 400 địch chết, bị thương, 1.000 địch phải ra hàng, ta thu được hơn 1.500 súng các loại, mà phải biết nó ở góc độ nghiên cứu. Chúng tôi đã chụm đầu vào nhau trên tấm bản đồ quân sự tỉnh Tây Ninh mà tìm hiểu, suy nghĩ thực chất của các diễn biến, nhờ đó đã có được những kết luận đầy hứng khởi, có ý nghĩa đối với sự phát triển trưởng thành của binh chủng; Đặc công kết hợp với bộ binh có thể tiêu diệt gọn căn cứ cỡ trung đoàn địch. Cũng vẫn lượng thông tin từ chiến trường gửi ra qua làn sóng điện, chúng tôi biết: Huỳnh Phi Long, một chiến sĩ biệt động Sài Gòn đã có công đầu trong nhiệm vụ đánh nhà hàng Mỹ Cảnh ngay trên sông Sài Gòn, nơi mà bốn bề được địch canh phòng cẩn mật. Cùng với các chiến sĩ đặc công, còn phải kể đến công sức âm thầm mà cụ thể của người thứ hai, đó là một bà má nghèo bán quà rong trên đoạn đường Bạch Đằng hôm ấy (30-3-1965). Bà má đó đã nhận chứa trái mìn hẹn giờ nhằm che mắt địch, tạo điều kiện cho Huỳnh Phi Long hoàn thành nhiệm vụ. Sự kiện được giấu kín, báo chí hồi đó không đưa tin, nhưng nhiệm vụ của chúng tôi lại phải hiểu nó một cách rạch ròi, tỉ mỉ, để từ đó mà xây dựng nghệ thuật tác chiến của đặc công - không thể tách rời nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nghệ thuật đó là phải có lòng dân, phải xây dựng thế trận ngay trong lòng dân. Không dựa vào dân, không có dân ủng hộ thì kỹ thuật chiến thuật đặc công dù có hoàn hảo đến đâu cũng khó mà phát huy hết tác dụng.

Trong những ngày tháng này, những suy nghĩ, những hành động hàng ngày của chúng tôi nhất nhất đều gắn bó với các hoạt động sôi động của chiến trường. Sau khi thành lập trung đoàn 426 đặc công chúng tôi đã nghĩ ngay đến việc huấn luyện như thế nào đây, để khi anh em vào trong đó là chiến đấu được ngay, hạn chế đến mức thấp nhất những xa lạ, ngỡ ngàng. Với cương vị trung đoàn trưởng, tôi trăn trở suy nghĩ và nêu ý kiến trao đổi trong các cuộc họp của Ban chỉ huy trung đoàn. Phải kiên quyết huấn luyện sát với thực tế sôi động của chiến trường, tạo điều kiện cho mọi người ngay từ giờ làm quen với đặc điểm địa hình trong đó, vì đây là trung đoàn đặc công đầu tiên mà hầu hết cán bộ, chiến sĩ quê ở miền Bắc. Được cấp trên chấp thuận, chúng tôi đưa tiểu đoàn 1 do đồng chí Hoàng Đắc Cót làm tiểu đoàn trưởng, Mai Văn Thoạn làm chính trị viên, về thôn Hoàng Gián thuộc huyện Đông Triều (Quảng Ninh), noi có địa hình na ná như Đông Nam Bộ; sông Đạm Thủy cũng quanh co uốn khúc giống như sông Bé, vùng đồi Đông Triều thấp thoáng cảnh sắc vùng núi Cậu (Dầu Tiếng); tiểu đoàn 5 do Nguyễn Văn Bào làm tiểu đoàn trưởng, đưa về chân đèo Mông (Kim Môn, Hải Hưng), vì ở đây cảnh vật mang dáng dấp vùng Thanh Quít, Cầu Đỏ, ngoại thành Đà Nẵng; tiểu đoàn 3 do Tạ Hiên làm tiểu đoàn trưởng, Nguyễn Văn Minh làm chính trị viên được đưa về đứng chân ở vùng Gốt - Miến Môn, nơi có làng mạc, đồng ruộng, đồi núi đất đá xen kẽ hao hao giống một vùng nào đó của Trung - Hạ Lào...

Biết rằng làm như thế là có nhiều đẻ số trong lãnh đạo, chỉ huy điều hành tiến độ huấn luyện, nhưng chúng tôi vẫn quyết tâm và chủ động triển khai thực hiện, vì thấy nó có lợi nhiều mặt, nhất là có điều kiện huấn luyện sát gần với không gian chiến trường mà sau này anh em sẽ đến. Trong quá trình huấn luyện, chúng tôi lại dựa vào các nhật ký chiến lệ từ chiến trường gửi ra mà cấu tạo đồn bót địch, xây dựng nội dung tưởng định có những nét rút ra từ các trận Núi Thành, Điện Ngọc (Khu V), Phước Long,

Núi Cậu, Cần Đâm (Đông Nam Bộ) để anh em thực hành kỹ thuật tiềm nhập. Nhờ đó đã gây được tinh thần hào hứng, hăng say trong học tập, nâng cao lòng tin vào khả năng chiến đấu của mọi người.

Mặc dù sống trong hoàn cảnh hòa bình trên miền Bắc, nhưng ngày ngày chúng tôi vẫn rèn luyện nếp sống chiến đấu, hòa nhập với chiến trường, tự giác chịu đựng những điều kiện khắc nghiệt trong huấn luyện, hành quân, sinh hoạt. Tất nhiên trong chúng tôi không phải không có người băn khoăn suy tính, nhưng số đông vẫn rất điềm tĩnh, thanh thản và tự tin.

Từ buổi lên đường vào Nam làm nhiệm vụ tiền trạm của các chiến sĩ đặc công khởi hành vào một sáng tháng 7 năm 1955, hàng năm có những chuyến đi tiếp nối đông thêm2 với một trọng trách thật nặng nề mà cũng rất rõ ràng - đối mặt với một kẻ thù có tiềm lực kinh tế và quốc phòng mạnh nhất trong phe đế quốc và có nhiệm vụ phải thắng chúng, và ai cũng biết trước là sẽ hy sinh, gian khổ, đói khát, bệnh tật, nhưng không một ai trù trừ. Từ miền Bắc vào, họ đã góp phần phát triển lực lượng đặc công theo cấp số nhân, có mặt ở hầu khắp các chiến trường.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn