Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Đặc công Khánh Hòa: Điểm huyệt Bắc Khánh

Gemini đã nói Tiếp nối mạch chuyện trước, đoạn trích này mang sắc thái hào hùng và căng thẳng hơn với những chuẩn bị cho chiến dịch Đông Xuân 1953 - 1954. Dưới đây là tên gọi và phần mô tả ngắn gọn cho đoạn kể này: Tên gọi gợi ý Cú đấm thép tại Cầu Đúc Đặc công Khánh Hòa: Điểm huyệt Bắc Khánh Trận đánh thay đổi cục diện Mô tả ngắn gọn Đoạn trích tái hiện sinh động quá trình chuẩn bị và thực hiện trận đánh vào cứ điểm Cầu Đúc – một vị trí chiến lược trọng yếu của quân Pháp tại Bắc Khánh Hòa n

Lai Châu25/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sau ngày dừng chân ở căn cứ Đá Bàn để lấy lại sức, đoàn học sinh Đặc công được lệnh chuẩn bị làm nhiệm vụ - tham gia đợt hoạt động quân sự nhằm phối họp với mặt trận Điện Biên Phủ.

Trong những ngày cuối tháng 2 năm 1954, chúng tôi đứng ngồi không yên, ai cũng một tâm trạng bồn chồn, thấp thỏm chờ mong lệnh lên đường. Số anh em đi học về cùng với anh em ở lại đã sáp nhập làm một, thành đội Đặc công trực thuộc Bộ tư lệnh Liên khu V được phái vào Khánh Hòa hoạt động. Nhưng chúng tôi vẫn xem mình là lực lượng trực thuộc của tỉnh, sẵn sàng nhận mọi nhiệm vụ và bất cứ ở đâu do tỉnh giao.

Đúng vào thời điểm này, địch đã huy động mọi nỗ lực tối đa mở cuộc hành quân “Át-lăng”, đây là trọng điểm của giai đoạn thứ nhất của kế hoạch Na-va dự định trong vòng mười tám tháng sẽ hoàn tất cuộc chiến tranh xâm lược trên toàn cõi Đông Dương, kết thúc thắng lợi trên thế mạnh. Còn ta thì như quyết tâm của Bộ tư lệnh Liên khu V mà chúng tôi được phổ biến là: Phải phá tan kế hoạch Na-va, góp phần vào thắng lợi của cả nước trong Đông Xuân 1953 - 1954, trước hết là đánh bại hoàn toàn “chiến dịch Át- lăng” của địch, giữ vững vùng tự do và căn cứ kháng chiến quan trọng của ta. Để thực hiện quyết tâm này, bên cạnh việc phát huy sức mạnh tổng hợp tại chỗ của chiến tranh nhân dân bốn tỉnh vùng tự do (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên) ngăn chặn đánh địch ở những nơi chúng đánh ra. Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu V quyết định mở chiến dịch Tây Nguyên, chủ động tiến công vào một địa bàn chiến lược trọng yếu sống còn của địch buộc chúng phải phân tán đối phó. Đối với các chiến trường sau lưng địch, phải tăng cường hoạt động phối hợp với hướng chính và vùng tự do bằng cách bao vây uy hiếp đồn bót địch, đánh cắt giao thông; đánh sâu vào các thị trấn, quận ly, thị xã; đẩy mạnh phá tề trừ gian và vận động binh lính đào ngũ, phản chiến; đẩy mạnh phong trào đấu tranh của quần chúng trong các đô thị; không cho địch rút lực lượng tại địa phương đi các nơi khác; tranh thủ thời cơ sơ hở ra sức tiêu diệt nhiều đồn bót, mở rộng vùng du kích và vùng giải phóng.

Riêng với Khánh Hòa, Bộ tư lệnh Liên khu V còn giao thêm nhiệm vụ cụ thể: Phải kìm giữ cho được một trung đoàn chủ lực của Pháp không cho lên Tây Nguyên, đồng thời chặn đánh cánh quân địch đánh ra Phú Yên ở hướng đèo Cả...

Như vậy rõ ràng là, với vị trí quân sự đặc biệt của mình và để nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh chiến đấu của Bộ tư lệnh Liên khu V, quân dân Khánh Hòa phải mở một chiến dịch tổng họp, đánh địch cả về chính trị, quân sự, kinh tế. về xây dựng lực lượng, phải tổ chức như thê nào để có lực lượng vừa tiến công diệt địch tốt, vừa phòng thủ vững chắc các căn cứ kháng chiến phía tây của tỉnh như: Đá Bàn, Đồng Găng, Làng Nhớt, Đất Sét và Khánh Sơn, bảo đảm đường hành lang nối thông các căn cứ này với các căn cứ của tỉnh Ninh Thuận - một hệ thống căn cứ liên hoàn đã hình thành theo tuyến hành lang chiến lược Bắc - Nam của Trung ương, để có điều kiện đánh địch lâu dài, vừa chuẩn bị cơ sở - địa bàn tại chỗ sẵn sàng đón thời cơ lớn.

Tình hình thì khẩn trương và căng thẳng, nhiệm vụ thì nặng nề và phức tạp nhưng chúng tôi rất tự tin và lạc quan. Hơn lúc nào hết, ai nấy đều hừng hực một khí thế quyết tâm chiến đấu. Thời gian lúc này đã trở nên thật quý hiếm, một cuộc chạy đua với địch, nhưng như thế không có nghĩa cho phép ta đánh không có suy nghĩ, thiếu chuẩn bị. Trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa, địch xây cứ điểm, dựng đồn bót dày đặc suốt từ nam đèo Cả qua Vạn Ninh, Ninh Hòa, thị xã Nha Trang đến nam Cam Ranh giáp huyện Bác Ái (Ninh Thuận) thì đánh vào đâu là chắc ăn, có tác dụng thối động toàn bộ quân địch ở đây, giữ chân chúng lại để phối họp có hiệu quả với chiến dịch Tây Nguyên của ta và góp phần đánh bại “chiến dịch Át-lăng” của địch.

Tại căn cứ Đá Bàn, ban thường vụ tỉnh ủy đã họp mở rộng để thảo luận ra nghị quyết cụ thể nhằm thực hiện quyết tâm của Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu V về đợt hoạt động Đông- Xuân. Hướng tiến công chủ yếu là bắc Khánh Hòa, hướng phối hợp rất quan trong là nam Khánh Hòa bao gồm Diên Khánh và Nha Trang; điểm tiến công chủ yếu là căn cứ Cầu Đúc, cắt đứt quốc lộ, đường giao thông chiến lược - đoạn Khánh Hòa đi Phú Yên, phá kế hoạch nối vùng “hậu phương” với tiền phương của các cánh quân địch trong “chiến dịch Át-lăng” đánh chiếm vùng tự do Liên khu V; đồng thời nhanh chóng tập trung lực lượng đánh bọn địch ở ngoại vi, dùng lực lượng đặc công tiến công các cứ điểm Cầu Đúc, Lạc Ninh, Hòn Khói; và khi có thời cơ, tổ chức lực lượng đánh thẳng vào cơ quan đầu não của địch ở thị trấn Ninh Hòa, tạo thời cơ và tranh thủ thời cơ giải phóng Bắc Khánh.

Chúng tôi được nghe phổ biến nghị quyết của thường vụ tỉnh ủy với một niềm xúc động khó tả. Những mục tiêu trên mà thực hiên được thì còn gì vui sướng bằng. Những điều thu lượm được ở lớp học đặc công nay có dịp về thực hiện; giải phóng Ninh Hòa . Bắc Khánh, tôi có dịp về thăm lại quê hương, được nhìn thấy mẹ và các em, biết bao điều dồn nén nay có dịp mẹ nói cùng con, em nói với anh; biết bao chuyện con muốn nhắn, muốn gửi nơi mẹ, nay mới có điều kiện.

Các lực lượng vũ trang của tỉnh đã lên đường thực hiện nhiệm vụ: Diệt khu hành lang chính Mỹ Lệ (Ninh Hòa); diệt đồn Đại Mỹ, tập kích khu căn cứ tiếp vận tiền phương ở Ninh Hòa, phá hủy hàng chục kho vũ khí và phương tiện chiến tranh, giết và làm bị thương trên một trăm tên giặc, gây khó khăn nghiêm trọng đến kế hoạch điều hành “chiến dịch Át-lăng” của địch mà chúng đang ráo riết chuẩn bị. Đặc biệt là tin các chiến sĩ Đặc công của trung đoàn 803 đã đột nhập vào kho xăng Nha Trang thiêu hủy gần bốn triệu lít xăng đã làm chúng tôi vừa phấn khởi tự tin, vừa bồn chồn chờ đợi. Bởi lẽ đến giờ này toàn tình đã bước vào giai đoạn hoạt động sôi nổi, ai cũng phấn khởi, đều ít nhiều đóng góp phần cụ thể của mình vào chiến thắng Đông Xuân, thiết thực phối họp với các chiến trường, thì chúng tôi vẫn chưa có dịp lập công. Tiếp đến là chiến dịch Tây Nguyên của ta đã mở màn ngày 27 tháng 1 và đến này 5 tháng 2 thì giải phóng thị xã Công Tum, quét sạch toàn bộ quân địch ở bắc Tây Nguyên... Và sau cùng được tỉnh thông báo là tại mặt trận Điện Biên Phủ, rạng sáng 13 tháng 3 ta mở đợt tiến công đầu tiên vào cứ điểm Him Lam và Độc Lập.

Đang lúc chúng tôi sốt ruột, bồn chồn, có thể nói là như ngồi trên đông lửa, thì anh Phan Văn Đường xuống. Bây giờ anh là chỉ huy trưởng tỉnh đội mà trông dáng vẻ vẫn nhanh nhẹn, hiếu động như năm nào còn là đại đội trưởng chỉ huy đội Cảm tử 2 từ Quảng Ngãi vào Ninh Hòa chiến đấu. Tôi chưa kịp hỏi, anh thân mật nói liền:

- Thường vụ Tỉnh ủy giao cho mình xuống bàn với các cậu về kế hoạch đánh Cầu Đúc.

- Đánh Cầu Đúc hở anh? - Tôi hỏi lại với niềm vui lan nhanh như muốn reo lên thật to, loan tin này đến cho mọi người cùng vui. Nhưng tôi ghìm được ngay vì đây là vấn đề bí mật.

Tôi nén niềm vui lại, tiếp tục nghe anh giao nhiệm vụ. Việc hệ trọng mà diễn ra thì thật giản dị, đượm cái không khí gia đình. Không bàn ghế, không bản đồ và ngay cả giấy bút để ghi cũng không. Chúng tôi cùng ngồi xuống đất bên một gốc cây giữa rừng trải đầy lá khô như một tấm chiếu thiên nhiên rất sạch và êm, chẳng ghi chép gì, tất cả đều nhập tâm. Anh Đường cũng vậy, không cần sổ sách, nói liền một mạch, ngắn và rõ: Trong cuộc họp Ban thường vụ Tỉnh ủy mở rộng, nói chung đều tán thành chọn Bắc Khánh là hướng tiến công chủ yếu, nhưng điểm tiến công chủ yếu thì lúc đầu có hơi ngại cứ điểm cầu Đúc “cứng” quá, khó ăn, nên đánh thị trấn Tu Bông hoặc Vạn Giã chắc ăn hơn vì là trận mở đầu. Qua phân tích yếu mạnh và vai trò của từng đồn bót địch chạy suốt từ Nha Trang ra đến Đại Lãnh (chân đèo Cả), cuối cùng Thường vụ Tỉnh ủy nhất trí chọn Cầu Đúc giữ vai trò như một “đầu cầu” của địch trong cuộc hành quân đánh chiếm vùng tự do Phú Yên từ phía nam lên; đồng thời nó khống chế phong trào kháng chiến cả một vùng đông dân của huyện Vạn Ninh. Như vậy đánh cầu Đúc là đánh chỗ mạnh nhưng cũng là nơi hiểm yếu của địch. Nếu ta diệt được cứ điểm này sẽ làm rung chuyển cả hệ thống phòng thủ của địch ở vùng Bắc Khánh, có tác dụng phối họp một cách kịp thời và có hiệu quả với chiến dịch của ta đang mở ở bắc Tây Nguyên, góp phần làm phá sản “chiến dịch Át-lăng” của địch...

Không chờ anh phổ biến hết, tôi hỏi xen vào:

- Ngoài lực lượng Đặc công, còn có đơn vị nào tham gia đánh Cầu Đúc nữa không?

- Có, nhưng Đặc công là chủ yếu, - anh Đường trả lời, rồi bằng một giọng tâm tình, cởi mở mà nghiêm túc, như củng cố thêm lòng tin cho tôi, anh nói - nếu đánh theo phương pháp cường tập thì lực lượng sử dụng phải tới cỡ trung đoàn bộ binh mạnh. Nhưng lấy đâu ra trong điều kiện Khánh Hòa lúc này lực lượng mới bắt đầu hồi phục, một tiểu đoàn hoàn chỉnh cũng chưa có. Vả lại, nếu có một trung đoàn mạnh thì đánh theo phương pháp này chưa chắc đã ăn. Vì Cầu Đúc bản thân nó là một căn cứ mạnh trong hệ thống phòng thủ mạnh ở Bắc Khánh. Địch sẽ có đủ điều kiện phản ứng lại, không chịu ngồi nhìn ta đánh Cầu Đúc. Phi pháo của chúng sẽ được huy động tối đa đến đây để đập ta, chặn đứng các mũi tiến công của ta.

Như đoán được sự hưởng ứng tâm đắc của tôi, anh dừng lại và móc túi mời tôi thưởng thức điếu thuốc lá chiến lợi phẩm vừa được phân phối. Tôi vốn không nghiện chè thuốc nhưng lúc này đây Cũng nhận một điếu thuốc nghĩa tình và hút cũng thấy có cảm giác khoan khái. Một phút yên lặng sâu lắng trôi nhanh, anh lại tiếp tục phổ biến, giọng càng trở nên tâm tình hơn: Các anh trong Thường vụ sau khi cân nhắc đã khẳng định quyết tâm chọn Cầu Đúc là điểm tiến công chủ yếu hoàn toàn có căn cứ thực tiễn và giao nhiệm vụ này cho lực lượng Đặc công. Ngừng một lát, anh nhấn mạnh - Chỉ có phương thức tác chiến đặc công là phù họp với thực tiễn và nhất định chúng ta sẽ thắng. Tỉnh sẽ chi viện cho đặc công các anh một trung đội bộ đội địa phương và khoảng 300 dân công để làm nhiệm vụ tải thương, thu gom chiến lợi phẩm sau khi Đặc công đã vô đồn, thanh toán toàn bộ quân địch phòng thủ ở khu vực đó.

Như vậy quyết tâm của các anh trên tỉnh là phải thắng trận Cầu Đúc. Và giao nhiệm vụ phải thắng đó cho các chiến sĩ Đặc công chúng tôi. Mặc dầu vốn liếng tác chiến đặc công thu được sau thời gian học tập và thực tập - chiến đấu ở lóp học Đặc công Liên khu V về là khá, rất tự tin, nhưng đứng trước một nhiệm vụ mang nhiều ý nghĩa đã buộc chúng tôi phải lo toan, tính toán.

Đánh như thế nào đây? - Đó là điều chúng tôi phải suy nghĩ. Kinh nghiệm diệt cứ điểm Dốc Nhứt (nam đèo Hải Vân) có còn áp dụng được nữa không, có gì cần thêm? Trước hết việc điều nghiên nắm địch phải làm thật tốt đến mức chu đáo và hoàn hảo. Đêm trước tôi cử Phạm Đình Ý, một đồng đội tin cậy của tôi, một chiến sĩ đặc công cùng tôi đi học lớp đặc công Liên khu V trở về, dẫn tổ ba người đi làm nhiệm vụ trinh sát. Yêu cầu phải vô được nội đồn, sờ mó được chân pháo, đo đếm được số lượng và chất lượng các lô cốt, ụ súng, lỗ châu mai, hàng rào kẽm gai và bãi mìn, v.v... Ý đã hoàn thành nhiệm vụ này.

Rất tin các số liệu mà Ý đã báo cáo. Nhưng vẫn phải kiểm tra lại. Đó là nguyên tắc điều nghiên - trinh sát của tác chiến đặc công, hơn nữa, đây là trận then chốt chỉ có quyền thắng nên công tác kiểm tra càng trở nên nghiêm túc và cấp bách. Mà kiểm tra có nghĩa là phải tiếp tục đi trinh sát, trinh sát lần thứ hai, kiểm tra các kết quả cũ và phát hiện thêm tình hình mới.

Đêm sau, tôi trực tiếp đi làm nhiệm vụ này. Cũng không cần nhiều người, ít mà tinh là được. Cùng đi với tôi có Lê Sơn Hổ, một chiến sĩ trẻ, lanh lợi, xông xáo và dũng cảm. Khoảng 19 giờ, tôi và Hổ từ hướng bắc (theo hướng mà Ý đã vào đêm qua) đột nhập vào nội đồn, trót lọt. Cuộc điều nghiên có tính chất kiểm tra này tiến hành thuận lợi. Nói chung tình hình mà Ý báo cáo cơ bản là đúng. Làm xong công việc xác minh, chúng tôi ra theo hướng nam, củng là để nắm tình hình, chuẩn bị một hướng dự bị; và cũng tìm thêm đường tiến công áp sát lô cốt mẹ - được xem như linh hồn của cứ điểm. Trên đường ra nói chung là êm ngọt, không gây một động tình gì, nhưng gần đến cổng ngoài thì gặp sự cố. Số là sau nhiều lần bị thất bại (có lẽ do cách đánh đặc công của ta phát triển) các đồn bót địch gia tăng củng cố, xây cất công sự boong-ke, dăng nhiều vật cản và tăng cường tuần phòng canh gác cẩn mật hơn. Đặc biệt cổng ra vào được địch chú ý nhiều. Ngoài cổng chính có công sự chiến đấu hai bên bảo vệ, địch còn làm thêm cổng cự mã ở ngoài cùng kề với hàng rào thứ nhất. Như các đồn binh khác, cứ điểm Cầu Đúc vào thời kỳ này được gia tăng canh gác và tuần phòng nghiêm ngặt cả nội đồn và ngoại đồn. Cứ tối đến, có một tiểu đội bí mật ra ngoài làm nhiệm vụ tuần phục phát hiện ta xâm nhập. Khi bọn này ra khỏi đồn, cửa cự mã được đóng lại và gài lựu đạn như cũ. Đến giờ quy định tiểu đội này trở về, dừng lại ngoài cổng dùng ám hiệu liên lạc với bộ phận lính gác bên trong. Đốc gác nhận đúng ám hiệu ra mở cửa, đứng nhận diện đủ số người mới cho vào, rồi đóng cửa lại như cũ.

Cái quy luật này trong khi điều nghiên chưa phát hiện được. Tôi và Hổ đang ở trần như da con trăn mốc, ra gần đến cổng thì đúng lúc tiểu đội địch đi tuần trở về, đang chờ bọn lính gác ra mở cửa. Rẽ xuống vệ đường ư? Rất có thể bị mìn địch cài, chỉ cần sượt chân trong gang tấc.

Lúc này không cho phép trao đổi, càng không có thời gian suy nghĩ vì địch và chúng tôi đã xáp quá gần, chỉ cách có hàng cự mã. Một phản ứng tức thì rất nhanh và ăn ý. Tôi nằm xuống và Hổ cũng nằm theo, rất nhẹ theo tư thế nghiêng áp bụng, ngực vào vệ đường, rất không thoải mái, dễ gây mệt mỏi và nếu tụt xuống chân đường, ở đấy chắc chắn có mìn. Nhưng không có cách nào khác, cứ phải ráng chịu. Bọn địch trong lúc đứng chờ mở cửa cổng thả sức đốt thuốc lá, gần như thằng nào cũng hút, ánh lửa lập lòe một quầng sáng mờ, nhờ, đủ nhìn thấy bóng các tên địch đứng lố nhố, tay cầm súng ở tư thế luôn luôn sẵn sàng bắn nếu có động. Tôi hơi ngẩng đầu, ngước mắt quan sát nhưng tay vẫn lăm lăm khẩu súng ngắn, chỉ chờ nếu có tên nào đó, dù hữu ý hay vô tình bước xuống vệ đường sát chỗ chúng tôi nằm thì đành phải nổ súng để triệt địch và thoát thân. Hành động như thế là bất đắc dĩ nhưng địch không phát hiện được dấu vết, yếu tố bất ngờ của trận tiến công vẫn còn. Hai phút trôi qua, bọn địch vẫn đứng tại chỗ chờ đốc gác ra mở cửa và tiếp tục thi nhau đốt thuốc chống lạnh và giết thời gian. Như thế là địch như mù, không biết gi đối phương đang nằm ngay dưới chân. Tôi mừng thầm: cơn hiểm nghèo sắp qua rồi, thì bỗng một mẩu thuốc lá hút dở còn đang cháy, không biết của tên nào ném ra, rơi trứng lưng. Tôi giật thót người vì nóng! Tôi suýt bật kêu lên như một phản xạ thông thường, tự nhiên, nhưng vội kìm ngay. Hất nó ra khỏi lưng ư? Dễ thôi, chỉ việc nghiêng mạnh là mẩu than hồng đó sẽ rơi ra khỏi lưng. Nhưng như thế chẳng khác nào “lạy ông tôi ở bụi này”. £)ich sẽ biết ngay, vì mẩu thuốc lá cháy đỏ ấy nhìn rất rõ trong đêm tối, chuyển động theo gió khác với rơi có lực tác động, hiện trường không bình thường ấy làm địch dễ sinh nghi. Tôi phải ráng chịu đựng để bảo đảm yếu tố bí mật tuyệt đối của nhiệm vụ. Chỉ có tạo được sự bất ngờ thì trận đánh mới giành thắng lợi, nhiệm vụ mới hoàn thành. Vấn đề chịu đựng khắc phục trong công tác đặc công, công tác điều nghiên - trinh sát thật là muôn màu muôn vẻ vì phải ứng phó với một kẻ thù địch cụ thể, nhưng thực tình trường hợp như đã xảy ra thì tôi chưa nghĩ đến bao giờ. Tôi cắn răng lại và tìm cách gỡ nóng như thế nào cho êm, địch không hề hay biết. Mắt không rời dõi theo địch, hai tay nắm chặt các lùm cỏ. Người tôi nhẹ hẳn đi, mặc dầu cảm giác đau rát ở chỗ mẩu thuốc roi vẫn còn. Nhưng ngay lúc ấy lại xảy ra sự cố khác do tôi gây nên. Vì trời tối không nhìn rõ Hổ đang nằm dưới, kế sát với mình, nên tôi nghiêng cho mẩu thuốc lá rơi nhè nhẹ như gió đưa ấy nào ngờ đốm than đang hồng lại chuyển sang lưng Hổ cũng ở trần như tôi. Nóng quá, Hổ không kêu lên nhưng thân rung mạnh như muốn hất nó ra khỏi lưng. Thấy vậy, tôi rất lo, vội lùi nhẹ, lấy tay ấn Hổ xuống. Biết ý, Hổ nằm im như bất động, ráng chịu cho đến khi mẩu thuốc đó lụi thành tán bay theo gió roi khỏi lưng một cách tự nhiên.

Đầu óc chúng tôi lúc này căng thẳng, tim đập mạnh. Bỗng có tiếng cạch, đó là tên đốc gác nhận đúng ám hiệu ra mở cổng. Tốp địch đi tuần tra lần luợt từng tên một vào cho đến tên cuối cùng vừa bước qua thì cửa cự mã đóng lại. Tên đốc gác làm các công việc xong, khóa gài đầy đủ số lựu đạn quy định xong xuôi, khoảng

năm phút sau mới về vị trí của y đặt ở cổng chính. Phút yên lặng đến nhanh, bóng tôi cũng ấp theo, tôi thở phào nhẹ nhõm và Hổ cũng vậy.

- Thoát rồi! - Tôi ghé sát tai Hổ nói. Hổ gật đầu đồng ý. ị

Hai chúng tôi đứng dậy vươn vai khoan khoái, làm một vài cử động nhẹ cho cơ thể trở lại bình thường sau những phút giây nằm chờ gò bó và căng thẳng bên vệ đường, rồi lại cúi xuống đi lom khom thật nhanh đến cổng cự mã. Tôi mở khóa, Hổ gỡ lựu đạn gài. Chỉ một thoáng, hai người lách qua cổng ra ngoài. Xong việc, lại theo sự phân công: tôi đóng khóa, Hổ gài lựu đạn, xóa hết dấu vết khiến địch sinh nghi. Công việc của người chiến sĩ đặc công làm nhiệm vụ điều nghiên - trinh sát địch là như vậy. Không chỉ nghĩ cách thoát sao cho an toàn với bản thân, mà phải làm gì để giữ bí mật. Bởi thế bất cứ một sơ suất nhỏ nào trong giai đoạn này cũng dễ tạo nên và làm tăng thêm sự nghi ngờ đối với địch, rất có thể ảnh hưởng đến trận đánh, có khi phải trả giá đắt cho sự cẩu thả, không chú ý đến chi tiết nhỏ.

Kiểm tra lần cuối, chúng tôi thực sự yên tâm là mình đóng cổng đúng như địch đã làm, mọi dấu vết khả nghi đã được xóa. Xong đâu đấy, cả hai bước ra khỏi đó mươi bước, tôi và Hổ nằm lại, ngửa mặt lên trời hít thở không khí trong lành của gió từ biển thổi vào, mãi ba phút sau mới đứng dậy đi tiếp. Trận đánh chưa xảy ra mà chúng tôi đã thực sự phấn khởi pha chút tự hào bởi công tác điều nghiên, đã làm tốt, đảm bảo quyết định cho thắng lợi đêm mai, bởi chúng tôi đã hành động đúng yêu cầu của người chiến sĩ Đặc công: Phải dũng cảm, kiên trì đến cùng, tìm mọi cách khắc phục khó khăn, không được và không bao giờ tự mình sơ hở để địch phát hiện. Qua mỗi trận đánh, mỗi lần kiểm nghiệm, lại thấy điều đó là đúng, trở thành một nguyên nhân thắng lợi đối với bất cứ trận tác chiến đặc công nào.

Đêm về khuya, trăng thượng tuần đã lặn từ bao giờ chỉ còn lại bầu trời đầy sao không một gợn mây, rọi ánh sáng lờ mờ, cho hai chúng tôi trở ra theo hướng đã vạch. Căn cứ cầu Đúc lui dần về phía sau và chìm trong đêm vắng. Ra khỏi cổng căn cứ một quãng xa chúng tôi đi tiếp xuôi theo hướng nam khoảng gần một cây số rồi quẹo phải, vượt đường số 1, chếch hướng tây - nam mà đi tới. Như có cái gì nâng bước, chúng tôi đi quên mệt, vậy mà gần một giờ sáng mới về đến đơn vị.

Phương án chiến đấu được các anh ở tỉnh thông qua nhanh: Ngay từ phút giây đầu tiên của giờ G phải đánh sập lô cốt mẹ, bắt khẩu đại liên câm họng, bắt trạm thông tin ở đây câm mồm, không liên lạc, cầu cứu được bất cứ đâu. Đến khi đồng bọn xung quanh biết Cầu Đúc bị Việt Minh tiến công thì mọi việc đã xong, việc chi viện trở nên vô ích.

Mười hai chiến sĩ tốt nghiệp lớp Đặc công Liên khu V trở về làm nhiệm vụ chủ yếu trực tiếp đánh phá tiêu diệt địch, san bằng căn cứ này; một trung đội bộ đội địa phương làm nhiệm vụ dự bị và chịu trách nhiệm tải thương; số anh chị em dân công nằm ngoài, khi có lệnh nhanh chóng vô đồn thu thập chiến lợi phẩm.

Mười hai chiến sĩ đặc công chia thành hai mũi: Mũi phụ do Phạm Đình Ỷ phụ trách từ hướng bắc đánh vào; mũi chính do tôi phụ trách từ đông nam đánh thốc lên. Sở dĩ chọn đông - nam là hướng tiến công chủ yếu là vì ở đây địch sơ hở, cho là gần biển ta khó vào? và khi đã đột nhập vô nội đồn thì có điều kiện áp sát đánh vào lô cốt mẹ tương đối thuận lợi. Đánh một căn cứ có một đại đội Com-măng-đô tăng cường phòng thủ, có hệ thống công sự boong-ke hoàn chỉnh, ở địa thế sát biển mà chỉ sử dụng hơn chục chiến sĩ đặc công; lúc đầu các anh trên tỉnh còn phân vân, cho như vậy lực lượng so sánh quá chênh lệch, e mỏng không hoàn thành nhiệm vụ. Tôi tự tin trình bày với cách đánh đặc công thì lực lượng như vậy là vừa. Kinh nghiệm thực tập - chiến đấu ở Quảng Nam đã chứng tỏ khi vô nội đồn không cần nhiều người; lúc đánh Dốc Nhứt (nam đèo Hải Vân) một cứ điểm được xếp hạng vô loại kiên cố vậy mà chỉ cần số học sinh tỉnh Khánh Hòa đảm nhiệm vẫn thắng.

Đã gọi là đặc công - là tiến công cứ điểm địch bằng phương pháp đặc biệt, biểu hiện cụ thể của cái đặc biệt ấy ở chỗ người ít mà tinh (tinh cả tinh thần chiến đấu cao, tinh cả kỹ thuật tiềm nhập phải thành thạo đến mức kỹ xảo, tinh cả kỹ thuật chiến đấu với hiệu quả cao...). Các anh trên tỉnh sau khi hỏi kỹ ý kiến từng người chúng tôi, liền chuẩn y và cho tôi thực hiện như kế hoạch đã định, chỉ nhấn thêm là không được chủ quan, bởi mỗi nơi thủ đoạn đối phó của địch mỗi khác.

Về ngụy trang, chúng tôi vẫn dùng bột nhọ nồi, chà lên người vì ở đây vùng cỏ tranh, địch vừa đốt, để lại trên toàn bộ nền đất màu xám đen. Tất cả phải có cành lá che đầu, vì tóc để dài, đang bò trườn gặp đèn pha địch rọi thẳng là chúng phát hiện được liền. Trang bị vũ khí ngoài bộc phá FT (phá tường) có trọng lượng thông thường hai đến ba cân mỗi quà. cá biệt có loại nặng tới sáu bảy cân. Ngoài ra còn có bộc phá ném do các xưởng quân giới Liên khu V sản xuất mang vào. Loại vũ khí này đã được cải tiến, làm theo đơn “đặt hàng” của chúng tôi rút ra từ sau trận đánh đich ở Gò Ông Tự, ngoài Quảng Nam. Nhân đầy xin mở vòng ngoặc kể cùng bạn đọc về thất bại này đã dẫn tới nguyên nhân cải tiến cấu tạo một số vũ khí chuyên dùng của đặc công thời đó. Chả là đợt thực tập - chiến đấu lần thứ nhất, đoàn học sinh Khánh Hòa được phân về đánh bót Gò ông Tự (Điện Bàn, Quảng Nam). Các kỹ thuật ngụy trang, trườn bò, cắt rào, gỡ mìn, anh em làm tương đối thành thạo, tất cả đều vô nội đồn một cách êm ru, địch không hề hay biết. Nhưng thất bại là do vũ khí chuyên dùng chưa được cải tiến, vẫn dùng loại bộc phá chập điện và vẫn theo lối đánh của anh em đặc công Đông Nam Bộ dùng thời kỳ đầu. Hôm đó, sau khi anh em vào được nội đồn, đặt được bộc phá FT vào đúng chân tường lô cốt rồi từ đó dòng dây ra ngoài hàng rào ngồi chờ đợi. Một chiến sĩ khác được phân công gọi loa kêu gọi địch đầu hàng, nếu không hàng sẽ cho “nổ” súng đánh sập lô cốt (nổ súng ở đây là chập điện pin, bộc phá nổ). Theo các anh Liêm, Đôi, Nê là những giáo viên từ Nam Bộ ra hướng dẫn chúng tôi kể lại thì cách đánh này có cái lợi là kết họp được giữa tiến công quân sự với địch vận - gọi hàng, nhiều đồn bót địch trong đó đã buộc nghe theo lời kêu gọi của ta, kết quả thắng to mà lại không tốn kém. Lần thực tập này các anh muốn thử nghiệm xem còn tác dụng không. Tất nhiên là kinh nghiệm trên không còn phù hợp nữa. Sau khi ta gọi loa, không thấy địch trả lời. Trong đồn vẫn yên lặng. Tưởng địch đã dao động, tiếng loa lại dõng dạc hướng vào đồn tiếp tục kêu gọi với một niềm tự tin hơn. Thì lần này địch trả lời bằng súng đạn hẳn hoi, ngay khi tiếng loa chưa dứt. Đồng chí phụ trách bộc phá theo quy ước, đến tình huống như vậy là chập điện cho bộc phá đặt sẵn bên lô cốt nổ. Một lần, hai lần và đến lần chập thứ ba vẫn không nghe thấy tiếng nổ mong đợi, chỉ thấy súng địch bắn ra càng rát đồng chí gọi loa bị thương nhẹ do đạn súng trường sượt qua vai trái. Thế là có sự trục trặc kỹ thuật, có thể do một đầu dây đã tuột hoặc một nguyên nhân nào đó ai mà biết được. Đến lúc ta và địch đã công khai tuyên chiến thi làm sao khắc phục được bất trắc này? Cần phải cải tiến vũ khí, điều đó đã được các đồng chí ở xưởng quân giới Liên khu V thỏa mãn, khiến chúng tôi càng tăng thêm lòng tin trước khi vào trận đánh.

Xin được trở lại câu chuyện đang kể. Đêm sau, theo kế hoạch chúng tôi bước vào trận đánh. Mọi sự chuẩn bị được kiểm tra đến từng chi tiết. Ý nghĩa chung của trận đánh, ý nghĩa riêng trong suy nghĩ của chúng tôi mà không ai nói ra, đó là trận đánh đầu tiên báo cáo kết quả học tập ngay tại quê nhà, làm chúng tôi thêm thận trọng, nghiêm túc. Đúng giờ, toàn đội triển khai đội hình tiềm nhập. Thiên nhiên lúc này không ủng hộ chúng tôi nữa. Ở hướng đông- nam là hướng chính của trận đánh bỗng mất đi cái lợi thế tự nhiên. Trời lặng gió, sóng biển thôi gầm réo. Sự động tĩnh nếu không cẩn thận rất dễ bị địch phát hiện. Và như thế súng từ các lỗ châu mai boong-ke rất gần kia cứ thế mà nhả đạn ra cái nơi tráng địa đã được căn sẵn. Phải xốc lại đội hình trước khi thực hành cắt rào là một điều hoàn toàn không nên có.

Đồn địch ở ngay trước mặt đã trở nên rất gần mà tôi thấy mình cứ lo lắng, bồn chồn. Với tư cách là tổ trưởng tôi phải .điều hành từng động tác bò trườn của các chiến sĩ kề sát bên, theo dõi đến từng cử động, vì một sơ suất nhỏ cũng dẫn đến thất bại nếu lộ, lo sao cho tất cả tám đồng đội của mình phải có mặt ở địa điểm theo đúng giờ G quy định; với tư cách lá chỉ huy trưởng trận đánh, tôi còn phải chăm chú nghe ngóng động tĩnh từ hướng bắc vọng về để nổ súng báo hiệu giờ G bắt đầu. Tuy lo nhưng tôi cũng thật tin vì anh em đã cùng tôi gắn bó thử thách qua các trận Tân Kiều, Hố Vông, đèo Phượng Hoàng, Dốc Thị, nhà Thương Chánh v.v... Mười hai con người, mỗi người một hoàn cảnh, một lý do lên đường khác nhau không ai giống ai, nhưng lại được đan kết gắn bó với nhau bởi một tình cảm chung thật đẹp, tình đồng đội vì sự nghiệp chung - giải phóng đất nước.

Tất cả đã vào hết nội đồn, từng người đã đến các mục tiêu được phân công, chờ lệnh nổ súng.

Giờ G - cái giờ thật thiêng liêng sắp bắt đầu thì ở mũi tôi chỉ huy bắt gặp hai tên lính đi tuần quanh nội đồn, chúng dùng đèn pin quơ lên, chúc xuống soi quét tứ phía. Tôi dùng ám hiệu ra lệnh cho anh em nằm bất động tại chỗ và dán mắt theo dõi. Rất tin ở kỹ thuật ngụy trang của anh em nhưng tôi vẫn thấy đây là phút giây cực kỳ hiểm nghèo, còn hơn cả cái hiểm nghèo hai chúng tôi đã nếm trải đêm qua. vẫn chưa hết, bất thần khẩu đại liên trên tầng hai lô cốt mẹ khạc đạn về hướng tây. Đêm yên tĩnh bị phá vỡ, pháo sáng thi nhau vút lên không trung. Đội hình tiềm nhập nằm như gí xuống mặt đất.

- Có thật là bị lộ không? Nếu lộ sao địch trong đồn vẫn nằm im, chỉ có khẩu đại liên đang bắn như đổ đạn về phía rừng phía tây, như nhằm vào đội hình quân ta từ hướng ấy đánh vào, nhưng thực tế thì hướng này không có ai, kể cả dân công. Khoảng mười phút sau đó, tiếng súng thưa dần rồi câm bặt, khiến tôi liên hệ đến trận Dốc Nhứt cũng gặp phải trường họp này. Cũng khoảng gần nửa đêm, súng các loại của địch thi nhau vãi đạn. Tôi chưa khẳng định đây là hoạt động có tính quy luật, cũng có thể địch bắn thị uy để đánh đòn cân não đối phương (cái hoạt động “chiến tranh cân não” này sang thời kỳ chống Mỹ vẫn thế, thường vào giờ này các căn cứ của Mỹ đều có hoạt động tương tự để trấn an tinh thần quân lính, một mặt khủng bố tinh thần đối phương). Thế là đã yên tâm được một bề, chỉ còn lo theo dõi hai tên lính tuần đêm đi trong nội đồn. Tay phải lăm lăm khẩu súng ngắn đạn đã lên nòng, tôi tự nhủ: hễ địch khả nghi, lùng sục phát hiện là nổ súng liền, coi như giờ G đến nhanh, anh em cứ việc ập vào các mục tiêu đánh phá đã được phân công. Hai tên lính đi tuần, tay cầm đèn vẫn quơ lên hạ xuống, rồi một tên đứng lại rọi ánh sáng xuống chân. Tôi gần như nín thở, chờ đón một điều gì chẳng lành sắp xảy ra trong gang tấc, tưởng có ai đó sơ suất để lộ. Nhưng không thấy y có hành động gì thêm. Thì ra y đứng đái. Tôi thở phào và hình như lồng ngực xẹp xuống, tim đập bình thường trở lại. Hai tên lính soi đèn ngoắt sang trái đi về phía nhà ngủ. Khi chúng vô nhà đóng cửa, tắt đèn đi ngủ thật, tôi mới thực sự yên tâm.

Giờ G không đến sớm mà muộn mất mười phút so với kế hoạch. Tôi dẫn tổ vào đánh lô cốt mẹ. Hổ đã áp quả bộc phá FT nặng năm cân vào sát cửa lô cốt mẹ. Chỉ trong tích tắc một tiếng nổ chói tai tưởng như bom, làm rung chuyển mặt đất nơi chúng tôi đang nằm. Cửa lô cốt bật tung, tôi dẫn tổ ba ngưòi ập vào, phát triển nhanh lên tầng hai, nơi khẩu đại liên do một tên lính to béo, cỏi trần, đang bắn xối xả ra xung quanh đồn. Hắn đang siết cò, đầu chúc xuống, lia quét tứ tung thì tôi đã đến sau lưng hắn, quát to:

- Giơ tay lên!

Tên lính sững sở hoảng hốt, vội bỏ súng, vái lạy:

- Dạ thưa, th...ưa con xin hàng! - Hắn luống cuống như líu lưỡi, giọng ngắt quãng - Xin các ông tha t...ội ch...ết cho con!

- Muốn sống tháo ngay chân súng ra! - Tôi ra lệnh tiếp.

Tên xạ thủ len lét ngoan ngoãn làm theo. Khẩu đại liên trước đó mấy phút là vật nguy hiểm, nay nằm ềnh ra như một đống sắt vô dụng.

Sau khi làm chủ lô cốt mẹ, bắt khẩu đại liên phải câm họng, tôi dùng đèn quơ thành vòng tròn ba lượt theo tín hiệu quy định, báo cho các mũi biết là lô cốt mẹ đã giải quyết xong và đoàn dân công biết chuẩn bị thu gom chiến lợi phẩm. Đang quơ vòng cuối cùng chưa hết thì súng từ lô cốt đối diện bất thần bắn sang, may mà đạn đi thấp, xuyên vào cổ chân đau nhói, làm tôi khuỵu xuống. Chú Ba tôi làm nhiệm vụ đứng cạnh đó nhưng tôi giấu không cho chú biết về hậu quả cảnh giác chưa cao của mình, vẫn tiếp tục chỉ huy các hướng diệt tiếp các mục tiêu còn lại. Mãi đến khi kết thúc trận đánh, anh em mới biết tôi bị thương liền tổ chức khiêng tôi ra nhanh khỏi vòng nguy hiểm.

Đêm chiến thắng trở về thật vui. Địch thua đau còn ta thì vô sự. Đêm tối trời mà bước đi của những người chiến thắng không vấp ngã, không chậm chạp. Mười hai chiến sĩ đặc công còn nguyên vẹn sau trận đánh. Chúng tôi chuyện trò cười nói râm ran, vui như trẩy hội.

Chiến thắng Cầu Đúc trở thành kỷ niệm sâu sắc trong đời chiến đấu của tôi. Nó làm chuyển biến trong tôi về cách đánh đặc công, khiến tôi bắt đầu từ đây có niềm say mê mới và càng làm tôi yêu mến, gắn bó một cách máu thịt với đồng đội của tôi, những chiến sĩ đặc công.

Năm tháng trôi qua, cảm thụ của tôi về trận thắng Cầu Đúc cứ được nhân lên. Tác chiến đặc công không chỉ là kỹ thuật đặc biệt, mà còn là sự kết hợp có tính nguyên tắc giữa kỹ thuật và chiến thuật. Mỗi một chiến sĩ đặc công không chỉ giỏi về kỹ thuật mà còn phải giỏi về chiến thuật cùng hiệp đồng ăn ý với đồng đội, kết thành sức mạnh muôn người như một. Nhờ sự kết họp này mà bất cứ căn cứ, đồn bốt nào, bất cứ sân bay, bến cảng nào, bất cứ kho tàng, hậu cứ nào, dù có kiên cố đến đâu ta vẫn có cách đánh được. Nhưng đánh vào đâu, ở vào bối cảnh, thời điểm nào để phát huy được chiến thắng, như điểm đúng “huyệt” trên cơ thể con người mới là điều quan trọng. Trận Cầu Đúc là một điểm “huyệt” nói lên rằng tác chiến đặc công phải gắn chặt với nghệ thuật quân sự nhất định, Đánh độc lập là một phương thức, nhưng đánh trong đội hình chiến dịch, chiến dịch - chiến lược lại quan trọng hơn, có thế tác chiến của đặc công mới góp phần tạo ra chuyển biến mạnh mẽ về so sánh lực lượng, tạo điều kiện cho việc giành thắng lợi lớn hơn. Chọn tiến công căn cứ Cầu Đúc là điểm đúng huyệt của thằng địch ở vùng Nha Trang lúc bấy giờ. Vì căn cứ này bị san bằng tức là đường số 1 bị cắt, cứ điểm đầu cầu Hảo Sơn (Phú Yên) của địch bị cô lập buộc chúng phải tiếp tế bằng máy bay; các đồn bót còn lại kể cả thị trấn Tu Bông, Vạn Giã, Ninh Hòa đều co lại và binh lính đóng ở đấy sống trong hoang mang, dao động v.v... Đánh Cầu Đúc, chỉ cần một điểm đó thôi, đã có sức thối động mạnh mẽ đến quân địch ở vùng Bắc Khánh và đến tận thị xã Nha Trang.

Như cờ đã cài thế, địch khó cựa mà ta thì mở ra các điều kiện cho nhiệm vụ tiếp sau. Sau cầu Đúc, các lực lượng vũ trang Khánh Hòa được chuẩn bị chu đáo hơn để đánh tiếp cứ điểm Lạc Ninh - một cứ điểm mạnh cỡ chi khu do một đại đội chủ lực ngụy đóng giữ, được táng cường cả đại bác 75 ly phòng thủ. Lạc Ninh cùng với các cứ điểm Tân Lâm, Dục Mỹ hình thành hệ thống phòng thủ vòng ngoài của địch, nhằm khống chê căn cứ kháng chiến Đá Bàn của ta, bảo vệ đường số 1 và 21 nối liền với Tây Nguyên. Cái vỏ cứng ấy đã bị ta san bằng. Đây là một trận đánh có hiệu suất cao (ta chỉ có một chiến sĩ hy sinh), ta diệt toàn bộ quân địch ở đây bắt tù binh, thu toàn bộ vũ khí, có cả đại bác 75 ly, lấy cả xe ô tô của địch để chở đại bác về căn cứ. Thừa thắng, ta bao vây pháo kích cứ điểm Tân Lâm, chuẩn bị tiêu diệt đồn Dục Mỹ. Trước tình hình nguy ngập, địch ở hai cứ điểm này bỏ chạy về co cụm ở thị trấn Ninh Hòa, toàn bộ vùng đồng bằng tây và tây bắc Ninh Hòa được giải phóng. Trong cái phấn khởi chung, tôi có niềm vui riêng - quê hương Ninh Hòa của tôi đã được giải phóng nhiều, tôi đã có thể an toàn đi giữa ban ngày về thăm lại mẹ và các em ở Phước Sơn. Hình ảnh quê hương cứ hiện về với những kỷ niệm hồi ấu thơ, khiến có lúc nó đã thôi thúc thực sự ý định về thăm nhà của tôi. Cái ước mơ chính đáng ấy đã ám ảnh dai dẳng trong tôi nhưng tôi lại bị cuốn vào bao nhiệm vụ khẩn trương trước mắt; kẻ thù vẫn còn đó.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn