Đặc công Khánh Hòa: Điểm huyệt Bắc Khánh
Gemini đã nói Tiếp nối mạch chuyện trước, đoạn trích này mang sắc thái hào hùng và căng thẳng hơn với những chuẩn bị cho chiến dịch Đông Xuân 1953 - 1954. Dưới đây là tên gọi và phần mô tả ngắn gọn cho đoạn kể này: Tên gọi gợi ý Cú đấm thép tại Cầu Đúc Đặc công Khánh Hòa: Điểm huyệt Bắc Khánh Trận đánh thay đổi cục diện Mô tả ngắn gọn Đoạn trích tái hiện sinh động quá trình chuẩn bị và thực hiện trận đánh vào cứ điểm Cầu Đúc – một vị trí chiến lược trọng yếu của quân Pháp tại Bắc Khánh Hòa n
Sau ngày dừng chân ở căn cứ Đá Bàn để lấy lại sức, đoàn học sinh Đặc công được lệnh chuẩn bị làm nhiệm vụ - tham gia đợt hoạt động quân sự nhằm phối họp với mặt trận Điện Biên Phủ.
Trong những ngày cuối tháng 2 năm 1954, chúng tôi đứng ngồi không yên, ai cũng một tâm trạng bồn chồn, thấp thỏm chờ mong lệnh lên đường. Số anh em đi học về cùng với anh em ở lại đã sáp nhập làm một, thành đội Đặc công trực thuộc Bộ tư lệnh Liên khu V được phái vào Khánh Hòa hoạt động. Nhưng chúng tôi vẫn xem mình là lực lượng trực thuộc của tỉnh, sẵn sàng nhận mọi nhiệm vụ và bất cứ ở đâu do tỉnh giao.
Đúng vào thời điểm này, địch đã huy động mọi nỗ lực tối đa mở cuộc hành quân “Át-lăng”, đây là trọng điểm của giai đoạn thứ nhất của kế hoạch Na-va dự định trong vòng mười tám tháng sẽ hoàn tất cuộc chiến tranh xâm lược trên toàn cõi Đông Dương, kết thúc thắng lợi trên thế mạnh. Còn ta thì như quyết tâm của Bộ tư lệnh Liên khu V mà chúng tôi được phổ biến là: Phải phá tan kế hoạch Na-va, góp phần vào thắng lợi của cả nước trong Đông Xuân 1953 - 1954, trước hết là đánh bại hoàn toàn “chiến dịch Át- lăng” của địch, giữ vững vùng tự do và căn cứ kháng chiến quan trọng của ta. Để thực hiện quyết tâm này, bên cạnh việc phát huy sức mạnh tổng hợp tại chỗ của chiến tranh nhân dân bốn tỉnh vùng tự do (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên) ngăn chặn đánh địch ở những nơi chúng đánh ra. Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu V quyết định mở chiến dịch Tây Nguyên, chủ động tiến công vào một địa bàn chiến lược trọng yếu sống còn của địch buộc chúng phải phân tán đối phó. Đối với các chiến trường sau lưng địch, phải tăng cường hoạt động phối hợp với hướng chính và vùng tự do bằng cách bao vây uy hiếp đồn bót địch, đánh cắt giao thông; đánh sâu vào các thị trấn, quận ly, thị xã; đẩy mạnh phá tề trừ gian và vận động binh lính đào ngũ, phản chiến; đẩy mạnh phong trào đấu tranh của quần chúng trong các đô thị; không cho địch rút lực lượng tại địa phương đi các nơi khác; tranh thủ thời cơ sơ hở ra sức tiêu diệt nhiều đồn bót, mở rộng vùng du kích và vùng giải phóng.
Riêng với Khánh Hòa, Bộ tư lệnh Liên khu V còn giao thêm nhiệm vụ cụ thể: Phải kìm giữ cho được một trung đoàn chủ lực của Pháp không cho lên Tây Nguyên, đồng thời chặn đánh cánh quân địch đánh ra Phú Yên ở hướng đèo Cả...
Như vậy rõ ràng là, với vị trí quân sự đặc biệt của mình và để nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh chiến đấu của Bộ tư lệnh Liên khu V, quân dân Khánh Hòa phải mở một chiến dịch tổng họp, đánh địch cả về chính trị, quân sự, kinh tế. về xây dựng lực lượng, phải tổ chức như thê nào để có lực lượng vừa tiến công diệt địch tốt, vừa phòng thủ vững chắc các căn cứ kháng chiến phía tây của tỉnh như: Đá Bàn, Đồng Găng, Làng Nhớt, Đất Sét và Khánh Sơn, bảo đảm đường hành lang nối thông các căn cứ này với các căn cứ của tỉnh Ninh Thuận - một hệ thống căn cứ liên hoàn đã hình thành theo tuyến hành lang chiến lược Bắc - Nam của Trung ương, để có điều kiện đánh địch lâu dài, vừa chuẩn bị cơ sở - địa bàn tại chỗ sẵn sàng đón thời cơ lớn.
Tình hình thì khẩn trương và căng thẳng, nhiệm vụ thì nặng nề và phức tạp nhưng chúng tôi rất tự tin và lạc quan. Hơn lúc nào hết, ai nấy đều hừng hực một khí thế quyết tâm chiến đấu. Thời gian lúc này đã trở nên thật quý hiếm, một cuộc chạy đua với địch, nhưng như thế không có nghĩa cho phép ta đánh không có suy nghĩ, thiếu chuẩn bị. Trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa, địch xây cứ điểm, dựng đồn bót dày đặc suốt từ nam đèo Cả qua Vạn Ninh, Ninh Hòa, thị xã Nha Trang đến nam Cam Ranh giáp huyện Bác Ái (Ninh Thuận) thì đánh vào đâu là chắc ăn, có tác dụng thối động toàn bộ quân địch ở đây, giữ chân chúng lại để phối họp có hiệu quả với chiến dịch Tây Nguyên của ta và góp phần đánh bại “chiến dịch Át-lăng” của địch.
Tại căn cứ Đá Bàn, ban thường vụ tỉnh ủy đã họp mở rộng để thảo luận ra nghị quyết cụ thể nhằm thực hiện quyết tâm của Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu V về đợt hoạt động Đông- Xuân. Hướng tiến công chủ yếu là bắc Khánh Hòa, hướng phối hợp rất quan trong là nam Khánh Hòa bao gồm Diên Khánh và Nha Trang; điểm tiến công chủ yếu là căn cứ Cầu Đúc, cắt đứt quốc lộ, đường giao thông chiến lược - đoạn Khánh Hòa đi Phú Yên, phá kế hoạch nối vùng “hậu phương” với tiền phương của các cánh quân địch trong “chiến dịch Át-lăng” đánh chiếm vùng tự do Liên khu V; đồng thời nhanh chóng tập trung lực lượng đánh bọn địch ở ngoại vi, dùng lực lượng đặc công tiến công các cứ điểm Cầu Đúc, Lạc Ninh, Hòn Khói; và khi có thời cơ, tổ chức lực lượng đánh thẳng vào cơ quan đầu não của địch ở thị trấn Ninh Hòa, tạo thời cơ và tranh thủ thời cơ giải phóng Bắc Khánh.
Chúng tôi được nghe phổ biến nghị quyết của thường vụ tỉnh ủy với một niềm xúc động khó tả. Những mục tiêu trên mà thực hiên được thì còn gì vui sướng bằng. Những điều thu lượm được ở lớp học đặc công nay có dịp về thực hiện; giải phóng Ninh Hòa . Bắc Khánh, tôi có dịp về thăm lại quê hương, được nhìn thấy mẹ và các em, biết bao điều dồn nén nay có dịp mẹ nói cùng con, em nói với anh; biết bao chuyện con muốn nhắn, muốn gửi nơi mẹ, nay mới có điều kiện.
Các lực lượng vũ trang của tỉnh đã lên đường thực hiện nhiệm vụ: Diệt khu hành lang chính Mỹ Lệ (Ninh Hòa); diệt đồn Đại Mỹ, tập kích khu căn cứ tiếp vận tiền phương ở Ninh Hòa, phá hủy hàng chục kho vũ khí và phương tiện chiến tranh, giết và làm bị thương trên một trăm tên giặc, gây khó khăn nghiêm trọng đến kế hoạch điều hành “chiến dịch Át-lăng” của địch mà chúng đang ráo riết chuẩn bị. Đặc biệt là tin các chiến sĩ Đặc công của trung đoàn 803 đã đột nhập vào kho xăng Nha Trang thiêu hủy gần bốn triệu lít xăng đã làm chúng tôi vừa phấn khởi tự tin, vừa bồn chồn chờ đợi. Bởi lẽ đến giờ này toàn tình đã bước vào giai đoạn hoạt động sôi nổi, ai cũng phấn khởi, đều ít nhiều đóng góp phần cụ thể của mình vào chiến thắng Đông Xuân, thiết thực phối họp với các chiến trường, thì chúng tôi vẫn chưa có dịp lập công. Tiếp đến là chiến dịch Tây Nguyên của ta đã mở màn ngày 27 tháng 1 và đến này 5 tháng 2 thì giải phóng thị xã Công Tum, quét sạch toàn bộ quân địch ở bắc Tây Nguyên... Và sau cùng được tỉnh thông báo là tại mặt trận Điện Biên Phủ, rạng sáng 13 tháng 3 ta mở đợt tiến công đầu tiên vào cứ điểm Him Lam và Độc Lập.
Đang lúc chúng tôi sốt ruột, bồn chồn, có thể nói là như ngồi trên đông lửa, thì anh Phan Văn Đường xuống. Bây giờ anh là chỉ huy trưởng tỉnh đội mà trông dáng vẻ vẫn nhanh nhẹn, hiếu động như năm nào còn là đại đội trưởng chỉ huy đội Cảm tử 2 từ Quảng Ngãi vào Ninh Hòa chiến đấu. Tôi chưa kịp hỏi, anh thân mật nói liền:
- Thường vụ Tỉnh ủy giao cho mình xuống bàn với các cậu về kế hoạch đánh Cầu Đúc.
- Đánh Cầu Đúc hở anh? - Tôi hỏi lại với niềm vui lan nhanh như muốn reo lên thật to, loan tin này đến cho mọi người cùng vui. Nhưng tôi ghìm được ngay vì đây là vấn đề bí mật.
Tôi nén niềm vui lại, tiếp tục nghe anh giao nhiệm vụ. Việc hệ trọng mà diễn ra thì thật giản dị, đượm cái không khí gia đình. Không bàn ghế, không bản đồ và ngay cả giấy bút để ghi cũng không. Chúng tôi cùng ngồi xuống đất bên một gốc cây giữa rừng trải đầy lá khô như một tấm chiếu thiên nhiên rất sạch và êm, chẳng ghi chép gì, tất cả đều nhập tâm. Anh Đường cũng vậy, không cần sổ sách, nói liền một mạch, ngắn và rõ: Trong cuộc họp Ban thường vụ Tỉnh ủy mở rộng, nói chung đều tán thành chọn Bắc Khánh là hướng tiến công chủ yếu, nhưng điểm tiến công chủ yếu thì lúc đầu có hơi ngại cứ điểm cầu Đúc “cứng” quá, khó ăn, nên đánh thị trấn Tu Bông hoặc Vạn Giã chắc ăn hơn vì là trận mở đầu. Qua phân tích yếu mạnh và vai trò của từng đồn bót địch chạy suốt từ Nha Trang ra đến Đại Lãnh (chân đèo Cả), cuối cùng Thường vụ Tỉnh ủy nhất trí chọn Cầu Đúc giữ vai trò như một “đầu cầu” của địch trong cuộc hành quân đánh chiếm vùng tự do Phú Yên từ phía nam lên; đồng thời nó khống chế phong trào kháng chiến cả một vùng đông dân của huyện Vạn Ninh. Như vậy đánh cầu Đúc là đánh chỗ mạnh nhưng cũng là nơi hiểm yếu của địch. Nếu ta diệt được cứ điểm này sẽ làm rung chuyển cả hệ thống phòng thủ của địch ở vùng Bắc Khánh, có tác dụng phối họp một cách kịp thời và có hiệu quả với chiến dịch của ta đang mở ở bắc Tây Nguyên, góp phần làm phá sản “chiến dịch Át-lăng” của địch...
Không chờ anh phổ biến hết, tôi hỏi xen vào:
- Ngoài lực lượng Đặc công, còn có đơn vị nào tham gia đánh Cầu Đúc nữa không?
- Có, nhưng Đặc công là chủ yếu, - anh Đường trả lời, rồi bằng một giọng tâm tình, cởi mở mà nghiêm túc, như củng cố thêm lòng tin cho tôi, anh nói - nếu đánh theo phương pháp cường tập thì lực lượng sử dụng phải tới cỡ trung đoàn bộ binh mạnh. Nhưng lấy đâu ra trong điều kiện Khánh Hòa lúc này lực lượng mới bắt đầu hồi phục, một tiểu đoàn hoàn chỉnh cũng chưa có. Vả lại, nếu có một trung đoàn mạnh thì đánh theo phương pháp này chưa chắc đã ăn. Vì Cầu Đúc bản thân nó là một căn cứ mạnh trong hệ thống phòng thủ mạnh ở Bắc Khánh. Địch sẽ có đủ điều kiện phản ứng lại, không chịu ngồi nhìn ta đánh Cầu Đúc. Phi pháo của chúng sẽ được huy động tối đa đến đây để đập ta, chặn đứng các mũi tiến công của ta.
| Như đoán được sự hưởng ứng tâm đắc của tôi, anh dừng lại và móc túi mời tôi thưởng thức điếu thuốc lá chiến lợi phẩm vừa được phân phối. Tôi vốn không nghiện chè thuốc nhưng lúc này đây Cũng nhận một điếu thuốc nghĩa tình và hút cũng thấy có cảm giác khoan khái. Một phút yên lặng sâu lắng trôi nhanh, anh lại tiếp tục phổ biến, giọng càng trở nên tâm tình hơn: Các anh trong Thường vụ sau khi cân nhắc đã khẳng định quyết tâm chọn Cầu Đúc là điểm tiến công chủ yếu hoàn toàn có căn cứ thực tiễn và giao nhiệm vụ này cho lực lượng Đặc công. Ngừng một lát, anh nhấn mạnh - Chỉ có phương thức tác chiến đặc công là phù họp với thực tiễn và nhất định chúng ta sẽ thắng. Tỉnh sẽ chi viện cho đặc công các anh một trung đội bộ đội địa phương và khoảng 300 dân công để làm nhiệm vụ tải thương, thu gom chiến lợi phẩm sau khi Đặc công đã vô đồn, thanh toán toàn bộ quân địch phòng thủ ở khu vực đó. Như vậy quyết tâm của các anh trên tỉnh là phải thắng trận Cầu Đúc. Và giao nhiệm vụ phải thắng đó cho các chiến sĩ Đặc công chúng tôi. Mặc dầu vốn liếng tác chiến đặc công thu được sau thời gian học tập và thực tập - chiến đấu ở lóp học Đặc công Liên khu V về là khá, rất tự tin, nhưng đứng trước một nhiệm vụ mang nhiều ý nghĩa đã buộc chúng tôi phải lo toan, tính toán. Đánh như thế nào đây? - Đó là điều chúng tôi phải suy nghĩ. Kinh nghiệm diệt cứ điểm Dốc Nhứt (nam đèo Hải Vân) có còn áp dụng được nữa không, có gì cần thêm? Trước hết việc điều nghiên nắm địch phải làm thật tốt đến mức chu đáo và hoàn hảo. Đêm trước tôi cử Phạm Đình Ý, một đồng đội tin cậy của tôi, một chiến sĩ đặc công cùng tôi đi học lớp đặc công Liên khu V trở về, dẫn tổ ba người đi làm nhiệm vụ trinh sát. Yêu cầu phải vô được nội đồn, sờ mó được chân pháo, đo đếm được số lượng và chất lượng các lô cốt, ụ súng, lỗ châu mai, hàng rào kẽm gai và bãi mìn, v.v... Ý đã hoàn thành nhiệm vụ này. Rất tin các số liệu mà Ý đã báo cáo. Nhưng vẫn phải kiểm tra lại. Đó là nguyên tắc điều nghiên - trinh sát của tác chiến đặc công, hơn nữa, đây là trận then chốt chỉ có quyền thắng nên công tác kiểm tra càng trở nên nghiêm túc và cấp bách. Mà kiểm tra có nghĩa là phải tiếp tục đi trinh sát, trinh sát lần thứ hai, kiểm tra các kết quả cũ và phát hiện thêm tình hình mới. Đêm sau, tôi trực tiếp đi làm nhiệm vụ này. Cũng không cần nhiều người, ít mà tinh là được. Cùng đi với tôi có Lê Sơn Hổ, một chiến sĩ trẻ, lanh lợi, xông xáo và dũng cảm. Khoảng 19 giờ, tôi và Hổ từ hướng bắc (theo hướng mà Ý đã vào đêm qua) đột nhập vào nội đồn, trót lọt. Cuộc điều nghiên có tính chất kiểm tra này tiến hành thuận lợi. Nói chung tình hình mà Ý báo cáo cơ bản là đúng. Làm xong công việc xác minh, chúng tôi ra theo hướng nam, củng là để nắm tình hình, chuẩn bị một hướng dự bị; và cũng tìm thêm đường tiến công áp sát lô cốt mẹ - được xem như linh hồn của cứ điểm. Trên đường ra nói chung là êm ngọt, không gây một động tình gì, nhưng gần đến cổng ngoài thì gặp sự cố. Số là sau nhiều lần bị thất bại (có lẽ do cách đánh đặc công của ta phát triển) các đồn bót địch gia tăng củng cố, xây cất công sự boong-ke, dăng nhiều vật cản và tăng cường tuần phòng canh gác cẩn mật hơn. Đặc biệt cổng ra vào được địch chú ý nhiều. Ngoài cổng chính có công sự chiến đấu hai bên bảo vệ, địch còn làm thêm cổng cự mã ở ngoài cùng kề với hàng rào thứ nhất. Như các đồn binh khác, cứ điểm Cầu Đúc vào thời kỳ này được gia tăng canh gác và tuần phòng nghiêm ngặt cả nội đồn và ngoại đồn. Cứ tối đến, có một tiểu đội bí mật ra ngoài làm nhiệm vụ tuần phục phát hiện ta xâm nhập. Khi bọn này ra khỏi đồn, cửa cự mã được đóng lại và gài lựu đạn như cũ. Đến giờ quy định tiểu đội này trở về, dừng lại ngoài cổng dùng ám hiệu liên lạc với bộ phận lính gác bên trong. Đốc gác nhận đúng ám hiệu ra mở cửa, đứng nhận diện đủ số người mới cho vào, rồi đóng cửa lại như cũ. Cái quy luật này trong khi điều nghiên chưa phát hiện được. Tôi và Hổ đang ở trần như da con trăn mốc, ra gần đến cổng thì đúng lúc tiểu đội địch đi tuần trở về, đang chờ bọn lính gác ra mở cửa. Rẽ xuống vệ đường ư? Rất có thể bị mìn địch cài, chỉ cần sượt chân trong gang tấc. Lúc này không cho phép trao đổi, càng không có thời gian suy nghĩ vì địch và chúng tôi đã xáp quá gần, chỉ cách có hàng cự mã. Một phản ứng tức thì rất nhanh và ăn ý. Tôi nằm xuống và Hổ cũng nằm theo, rất nhẹ theo tư thế nghiêng áp bụng, ngực vào vệ đường, rất không thoải mái, dễ gây mệt mỏi và nếu tụt xuống chân đường, ở đấy chắc chắn có mìn. Nhưng không có cách nào khác, cứ phải ráng chịu. Bọn địch trong lúc đứng chờ mở cửa cổng thả sức đốt thuốc lá, gần như thằng nào cũng hút, ánh lửa lập lòe một quầng sáng mờ, nhờ, đủ nhìn thấy bóng các tên địch đứng lố nhố, tay cầm súng ở tư thế luôn luôn sẵn sàng bắn nếu có động. Tôi hơi ngẩng đầu, ngước mắt quan sát nhưng tay vẫn lăm lăm khẩu súng ngắn, chỉ chờ nếu có tên nào đó, dù hữu ý hay vô tình bước xuống vệ đường sát chỗ chúng tôi nằm thì đành phải nổ súng để triệt địch và thoát thân. Hành động như thế là bất đắc dĩ nhưng địch không phát hiện được dấu vết, yếu tố bất ngờ của trận tiến công vẫn còn. Hai phút trôi qua, bọn địch vẫn đứng tại chỗ chờ đốc gác ra mở cửa và tiếp tục thi nhau đốt thuốc chống lạnh và giết thời gian. Như thế là địch như mù, không biết gi đối phương đang nằm ngay dưới chân. Tôi mừng thầm: cơn hiểm nghèo sắp qua rồi, thì bỗng một mẩu thuốc lá hút dở còn đang cháy, không biết của tên nào ném ra, rơi trứng lưng. Tôi giật thót người vì nóng! Tôi suýt bật kêu lên như một phản xạ thông thường, tự nhiên, nhưng vội kìm ngay. Hất nó ra khỏi lưng ư? Dễ thôi, chỉ việc nghiêng mạnh là mẩu than hồng đó sẽ rơi ra khỏi lưng. Nhưng như thế chẳng khác nào “lạy ông tôi ở bụi này”. £)ich sẽ biết ngay, vì mẩu thuốc lá cháy đỏ ấy nhìn rất rõ trong đêm tối, chuyển động theo gió khác với rơi có lực tác động, hiện trường không bình thường ấy làm địch dễ sinh nghi. Tôi phải ráng chịu đựng để bảo đảm yếu tố bí mật tuyệt đối của nhiệm vụ. Chỉ có tạo được sự bất ngờ thì trận đánh mới giành thắng lợi, nhiệm vụ mới hoàn thành. Vấn đề chịu đựng khắc phục trong công tác đặc công, công tác điều nghiên - trinh sát thật là muôn màu muôn vẻ vì phải ứng phó với một kẻ thù địch cụ thể, nhưng thực tình trường hợp như đã xảy ra thì tôi chưa nghĩ đến bao giờ. Tôi cắn răng lại và tìm cách gỡ nóng như thế nào cho êm, địch không hề hay biết. Mắt không rời dõi theo địch, hai tay nắm chặt các lùm cỏ. Người tôi nhẹ hẳn đi, mặc dầu cảm giác đau rát ở chỗ mẩu thuốc roi vẫn còn. Nhưng ngay lúc ấy lại xảy ra sự cố khác do tôi gây nên. Vì trời tối không nhìn rõ Hổ đang nằm dưới, kế sát với mình, nên tôi nghiêng cho mẩu thuốc lá rơi nhè nhẹ như gió đưa ấy nào ngờ đốm than đang hồng lại chuyển sang lưng Hổ cũng ở trần như tôi. Nóng quá, Hổ không kêu lên nhưng thân rung mạnh như muốn hất nó ra khỏi lưng. Thấy vậy, tôi rất lo, vội lùi nhẹ, lấy tay ấn Hổ xuống. Biết ý, Hổ nằm im như bất động, ráng chịu cho đến khi mẩu thuốc đó lụi thành tán bay theo gió roi khỏi lưng một cách tự nhiên.
| |



