Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Đặc Công Thất Sơn: Đòn Cáo Biến Và 15 Ngày Làm Chủ

Đoạn trích tái hiện cuộc đấu trí và đấu lực ngoạn mục của lực lượng Đặc công Miền tại căn cứ Vĩnh Trung và Ba Xoài (An Giang) vào tháng 3/1970. Bằng nghệ thuật điều nghiên tài tình, tác giả đã phát hiện ra "tử huyệt" tại điểm "giáp môi" – kẽ hở trong quy luật tuần tra của lính gác – để tổ chức một đòn đánh bất ngờ, tiêu diệt hoàn toàn cơ quan đầu não và khí tài của địch. Không chỉ dừng lại ở một trận đánh "xuất quỷ nhập thần", đơn vị còn lập nên kỳ tích khi chốt giữ căn cứ suốt 15 ngày đêm, hỗ t

Lai Châu25/03/2026Ban Biên tập tổng hợp4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ngày 15 tháng 3, tổ điều nghiên xuống núi. Ngoài tôi còn có một đồng chí đại đội trưởng, một đồng chí tiểu đoàn phó tiểu đoàn 7 và gần mười chiến sĩ.

Từ Vỏ Bo Hong, nơi chúng tôi đang trụ bám ém quân đến Vĩnh Trung cỡ lối hơn mười cây sô. Mặt trời vừa lặn chúng tôi đã xuống đến chân núi. Vượt qua hai bót địch và một ấp chiến lược, đồng chí giao liên huyện Tịnh Biên đưa chúng tôi vào ém ở một gia đình cơ sở của ta, cách căn cứ Vĩnh Trung khoảng hai cây số để định hướng, chuẩn bị tiếp trước khi bước vào nhiệm vụ.

Đêm hạ tuần vắng bóng trăng, bầu trời đen quánh, rất dễ lạc hướng và lạc đường, vì cách nhau chỉ dăm bước chân đã không nhìn thấy bóng. Tối trời là môi trường lý tưởng của tác chiến đặc công, nhưng tối trời cũng gây không ít khó khăn cho chúng tôi, thậm chí còn đổ máu nữa, nếu như công tác tổ chức chỉ huy, tổ chức chiến đấu không cụ thể, tỉ mỉ.

Vĩnh Trung đã ở trước mặt chúng tôi, nhờ có ánh sáng điện từ trong đó hắt ra. Phút đầu tiên không gây cho tôi một choáng ngợp như tiếp cận điều nghiên căn cứ Mỹ ở Đồng Dù, Phước Vĩnh. Ở đây - cái căn cứ Vĩnh Trung này, tất cả đều nhỏ bé trong diện tích, trong các khối hình nhà cửa, và cả sự ồn ào của động cơ trực thăng bay đêm, của xe tăng gầm rú trong tuần tiễu cũng không có. Vậy mà chính nơi đây, địch đã làm đảo lộn kế hoạch điều nghiên đợt đầu của chúng tôi; đại đội trưởng Cư không thiếu dũng cảm, không phải vào trận lần đầu, vậy mà Cư đã không hoàn thành nhiệm vụ, đã vĩnh viễn xa chúng tôi, hoàn toàn bỏ cuộc. Cái chết của Cư làm tim chúng tôi đau nhói, căm thù và quyết tâm lại tăng thêm, nhưng cũng chính cái chết của anh đã khiến chúng tôi phải thận trọng trong khi điều nghiên, không được mảy may chủ quan - dù là nhỏ nhất - vì sai một ly đi một dặm mà!

Không tham, không đốt cháy giai đoạn mà phải từng bước, đến đâu chắc ăn đến đấy. Chậm mà chắc còn hơn là nhanh ẩu, hỏng việc. Nhiệm vụ mà chúng tôi đặt ra cho mình trong đêm nay là nắm cho được việc tổ chức canh gác tuần tra và quy luật đổi gác của địch. Bởi bất cứ tiềm nhập vào từ hướng nào, bằng phương pháp gì đều phải trên cơ sở nắm chắc tình tình canh gác, bố phòng vòng ngoài của địch, để hoặc tìm cách vô hiệu hóa nó, hoặc lợi dụng ngay những sơ hở của nó mà sáp vô.

Khoảng 9 giờ tối, sự yên ắng tạm thời tan nhanh, mặt đất nơi chúng tôi đương nằm ém lại rung lên bởi súng các cỡ từ trong căn cứ bắn ra, từ trận địa pháo các nơi khác xối xả bắn tới, ánh hỏa châu làm giãn màn đêm. Căng thẳng mà thuận lợi, chúng tôi nhìn thấu vào tận căn cứ, dù có sơ suất va động lúc này địch cũng không nghe được. Không có động tĩnh gì chứng tỏ chúng tôi bị lộ, thế là càng vững tâm. Chỉ thấy hai tên lính gác tay lăm lăm khẩu AR.15 đầu nòng hoi chúc xuống đi đi, lại lại.

Đêm yên tĩnh trở lại, chúng tôi nằm như dán mình xuống mặt đất, rất gần nhau mà chẳng ai nhìn thấy ai. Càng tự tin ở kỹ thuật ngụy trang của mình, càng phấn hứng với nhiệm vụ. Năm phút, rồi mười phút trôi qua, sao lúc này thời gian đi chậm thế! Hai tên lính gác vẫn đi lại, tức là chứng vẫn thức. Đầu óc tôi bắt đầu thấy căng, càng thông cảm với nỗi khó khăn của các đồng chí đi điều nghiên đợt trước không thành. Đúng là địch canh phòng rất cẩn mật, không dễ gì mà lọt vô căn cứ, mà thương vong thì lại có thể đễ dàng xảy ra. Hai mưoi phút nữa trồi qua, cho đến khi đồng hồ chỉ đúng 10 giờ khuya tôi mới thấy bóng đen của hai tên lính gác đến gần nhau rồi tản ra, cả thảy ba lần cách đều nhau 15 phút. Thần kinh tôi bỗng chùng xuống, như có cái gì lóe sáng trong đầu, như một câu hỏi đã tìm được lời giải. Tôi tiếp tục theo dõi, không có gì căng thẳng, nhưng thấy mình hồi hộp và tim đập nhanh! Khoảng 10 phút sau, tôi như muốn reo lên: Đúng rồi! Hai tên lính gác kia là người của hai khu vực cử ra. Noi chúng nhập vào nhau rồi lại tản ra đi về vị trí của mỗi tên là giao điểm của hai khu vực mà chúng tôi tự đặt cho nó cái tên - điểm giáp môi. Những điểm giáp môi ấy bao giờ cũng có những sơ hở. Để chắc ăn hơn, chúng tôi quyết định nán lại nửa tiếng, sáp vô gần hơn nữa chỉ cách vọng gác khoảng chưa đầy mười mét để theo dõi xem kết luận của mình đã chính xác chưa, hay đó chỉ là những yếu tố ngẫu nhiên. Nhưng mới mười phút chúng tôi đã thấy hai tên gác kia giáp lại với nhau, lần này chúng đứng lâu hơn, cả hai đều vạch quần đái, nghe rõ cả tiếng... và ngửi được cả mùi khai qua những làn gió nhẹ từ trong thổi ra. Thế là rõ, chỗ “giáp môi” ấy còn là điểm chúng nó “tè” nữa. Đôi với mỗi chiến sĩ đặc công, có sung sướng nào rung động mạnh mẽ nơi con tim mình bằng những đêm vất vả đi điều nghiên mà phát hiện ra được sơ hở của địch. Sự mệt nhọc và sự căng thẳng trong mỗi chúng tôi đã được cái điểm “giáp môi” kia đền bù. Rút ra được rồi nhưng chúng tôi vẫn nằm lại đấy mà thưởng thức cái niềm vui trực quan, ngay phía trước mặt với bao ý nghĩ công việc tiếp sau phải làm, sẽ khởi đầu từ đây...

Đêm điều nghiên thứ hai lại bắt đầu. Thành phần những người đi làm nhiệm vụ dêm nay không có gì thay đổi. Chúng tôi thanh thản lên đường, vì trên cơ sở kết quả của đêm trước, một kế hoạch được vạch ra hoàn toàn chủ động, tính toán đến cả giờ giấc cho mỗi công việc.

9 giờ 30 phút đêm, tức là sau khi đợt bắn thị uy theo thường lệ kết thúc, chúng tôi bắt đầu khởi sự. Căn đúng điểm “giáp môi”, cắt rào thực hành nhiệm vụ. Hàng rào cuối cùng vừa cắt xong thì cũng là lúc hai tên lính từ hai vọng gác đi lại điểm “giáp môi”. Tôi ra lệnh nằm im theo dõi. Thật là hồi hộp! vẫn biết địch sáp lại với nhau là theo định kỳ thời gian nhưng vẫn thấy không an tâm. Biết đâu lúc nào xảy ra sự cố: hoặc một tiếng va đập do sơ suất từ noi chúng tôi, hoặc sự tinh mắt của lính địch mà chúng nhìn thấy chúng tôi, chỉ còn rất gần - khoảng năm mét. Nhưng điều lo xa của tôi là thừa, địch ra đó lại cùng nhau “tè”. Thật là một ngẫu nhiên thú vị. Tim tôi đập nhanh lúc này chỉ để tải cái nhịp vui sướng. Khi đã vượt qua vọng gác vòng ngoài thì dễ dàng vượt qua vọng gác vòng trong, vì thường thì thằng trong ỷ vào thằng ngoài. Phán đoán của chúng tôi quả là đúng.

Các yếu tố để hành động đã chín muồi. Tôi hạ lệnh cho tổ căn đúng điểm hố đái mà bò vào, làm nhiệm vụ nắm địch ở trong căn cứ. Cũng từ đây cái giờ phút căng thẳng lại đến, với bao lo toan. Công việc trôi chảy, đó là điều mong ước. Nhưng nếu lại xảy ra sự cố thi sao? Vấn đề sẽ không đơn giản. Hoạt động của dặc công lần này đâu phải là chiến đấu độc lập, mà là đánh địch trong đơn vị hợp thành; chiến đấu trong đội hình chiến dịch tổng họp vừa tiến công quân sự vừa đấu tranh chính trị thực hiện mở mảng mở vùng. Cái không hoàn thành của chúng tôi đêm nay tức là mục tiêu tiến công căn cứ Vĩnh Trung không thực hiện được, nhất định sẽ có ảnh hưởng dây chuyền đến các yêu cầu của chiến dịch. Ngay trong những trận chiến đấu độc lập của đặc công cũng chỉ hiểu theo nghĩa tương đối, còn trong thực tế nó gắn rất chặt với bối cảnh nhiệm vụ chung. Điều này đã được Bộ tư lệnh Miền nhấn mạnh khi giao nhiệm vụ cho đặc công chúng tôi xuống hoạt động ở khu Bảy Núi.

- Ngon rồi! - Tôi tự nhủ mình như thế, trong khi mắt vẫn không ngừng quan sát hai tên lính gác. Tình hình vẫn yên tĩnh. Tôi phấn khởi như muốn reo lên, khi gặp lại các đồng chí luồn sâu đã hoàn thành nhiệm vụ trở ra. Đồng chí giao liên của huyện Tịnh Biên đã chờ sẵn ở điểm hẹn, dẫn chúng tôi trở về “hậu cứ” bằng một con đường khác, đề phòng con đường cũ lộ, có thể địch phục kích. Đêm về khuya, gà gáy canh hai đã điểm, trăng cuối tuần mọc tỏa ánh sáng vàng vọt trên không gian rộng, khiến chúng tôi nhận ra ngay núi vỏ Bo Hong đang sừng sững trước mặt, như đang vẫy gọi, đón chào, mặc dầu đến được đấy, chúng tôi còn phải đi một đoạn đường dài khoảng' mười cây số, phải vượt qua một bót địch và một vùng sình lầy.

Gió từ đồng nội thổi mơn man, phả vào mặt mang lại cho chúng tôi cái dễ chịu của đất trời nơi đồng bằng đã quen mến và thích nghi với nó.

Như vậy là tình hình địch ở khu Bảy Núi nói chung, ở hai căn cứ Vĩnh Trung, Ba Xoài nói riêng đã rõ, là cơ sở để chúng tôi xây dựng quyết tâm chiến đấu cụ thể. Một vấn đề mới nảy sinh. Đó là mục tiêu chủ yếu của mũi tiến công quân sự nên nhằm vào đâu, có nhất thiết tập trung lực lượng đánh vào Ba Xoài, Vĩnh Trung hay không. Sao ta không nhằm vào chi khu quân sự Tịnh Biên hay lật cánh chuyển lực lượng xuống sâu hơn nữa, đánh vào chi khu quân sự Tri Tôn, rồi sau đó dựa vào núi Cô Tô mà bám trụ đánh địch phản kích, thực hiện làm chủ thị trấn Tri Tôn, dù chỉ một ngày, thậm chí trong vài giờ, thì sức thối động sê mạnh lan đến Châu Đốc, Long Xuyên, thấu tới Vị Thanh, Hòn Đất.

Thời gian ngày N đã đến gần nhưng nhận thấy đây là vấn đề quan trọng không thể bỏ qua, nên chúng tôi đã quyết định dành hẳn một ngày thảo luận thông suốt nhiệm vụ, để đạt tới nhất trí cao trước khi bước vào chiến đấu. Tại một cái hang nằm ở phần bắc núi Vỏ Bo Hong đã diễn ra cuộc hội nghị quân sự dân chủ. Đứng ở đây chúng tôi có thể phóng tầm mắt nhìn ra bốn phía, cảnh xóm ấp, kênh lạch dưới chân núi cứ như một sa bàn khổng lồ hiện rõ trước mặt mọi người. Cuộc hội nghị gồm đủ mặt các cán bộ chỉ huy tiểu đoàn và các đại đội trưởng thuộc bốn tiểu đoàn.
Trận tiến công vào hai căn cứ Vĩnh Trung và Ba Xoài chỉ còn bốn tiếng nữa là nổ súng. Các đơn vị đang rời núi đi về phía các mục tiêu được phân công. Giản đơn và dễ hiểu thế thôi, nhưng có được cái đêm nay đâu phải dễ, mà đã phải trải qua thời gian chuẩn bị không ngắn. Tính từ buổi anh Lê Đức Anh đến tiễn đưa đơn vị rời Gò Dầu Hạ (Tây Ninh) xuống đây, đã ngót ba tháng lao vào chuẩn bị với bao vất vả, không phải chỉ bằng mồ hôi mà cả máu nữa, để có được trận đánh mà chúng tôi tính đã không thể kéo dài trước khi bình minh ửng hồng.

Theo sự phân công của Bộ chỉ huy chung, tôi đi với tiểu đoàn 7 hướng Vĩnh Trung. Đợt hoạt động phối họp của các lực lượng vũ trang địa phương quả là có hiệu nghiệm. Cho đến hôm nay, trước lúc đội hình chiến đấu đặc công xuất phát chia thành hai cánh quân đi theo hai ngả, hướng vào mục tiêu đã được phân công, thì chúng tôi lại được các đồng chí địa phương đến báo cáo cho biết địch vẫn cho rằng “Việt cộng” không còn hơi sức đánh lớn, chỉ quấy rối nhỏ lẻ. Đây là một sự “cài thế” về tinh thần, khiến địch không thoát ra khỏi cái tư duy chỉ biết mình - một tư duy rất có lợi cho ta.

Ở Vĩnh Trung, chúng tỏi quyết định bỏ hướng đối diện với vỏ Bo Hong, vì địch cho rằng nếu ta từ núi xuống sẽ từ hướng này mà đánh vào căn cứ nên chúng càng tăng cường đề phòng, canh gác cẩn mật. Vì vậy chứng tôi phải cho đơn vị vòng lên hướng bắc và đông bắc đánh xuống. Rõ ràng đường tiềm nhập phải kéo dài, bộ đội thêm mệt mỏi. Nhưng không có cách nào khác. Hướng chủ yếu của trận đánh giao cho đại đội 1 được tăng cường, căn đúng điểm “giáp môi” nơi mà chúng tôi đã lấy đó đột nhập vào căn cứ địch trong thời kỳ điều nghiên.

Kết quả của công tác chuẩn bị đã phát huy tác dụng rất rõ trong giờ phút này. Chúng tôi đến mép hàng rào ngoài cùng vào lúc mười giờ khuya để kịp khởi sự vào đúng giờ G quy định là 12 giờ. Nhưng công tác cắt rào, gỡ mìn, khá phức tạp, nhất là ở hướng bắc, nên giờ G thực tể chậm mất 30 phút. Bị bất ngờ cho đến phút chót, kẻ địch hoàn toàn không kịp trở tay khi biết ta vô trong. Ở hướng chủ yếu, ta đánh thẳng vào sở chỉ huy biệt kích và khu nhà bọn cố vấn Mỹ, các hướng thứ yếu đánh vào khu pháo binh, phá bốn khẩu pháo 105, đốt các nhà lính và khu kho xăng, ngọn lửa bốc cao sáng cả vòm trời.

Đêm 28 rạng 29 tháng 3 năm 1970 là một đêm đầy hứng khởi đối với chúng tôi. Tất cả đều diễn ra theo đúng kế hoạch, Vĩnh Trung nổ súng trước làm nhiệm vụ pháo lệnh cho Ba Xoài và mười một hoạt động quân sự khác diễn ra trong đêm ở hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn. Một chiến thắng giòn giã mà ngọt êm. Cả Ba Xoài và Vĩnh Trung đều ngổn ngang xác giặc, sô sống sót bỏ chạy vào các đồn bót khác trong vùng hoặc lẩn trốn trong các ấp chiến lược. Cờ cách mạng tung bay trên căn cứ Ba Xoài trọn một ngày, trên căn cứ Vĩnh Trung vừa đúng nửa tháng.

Mười lăm ngày tuy ngắn, nhưng với chúng tôi như một giấc mơ quá sức. Diệt địch đã khó, chốt giữ lại càng khó hơn. Vậy mà chúng tôi đã thực hiện được cả hai mục tiêu ấy ở một chiến trường sâu, bốn bề đều có địch, trong thế trận cài răng lược, xa căn cứ, xa sự chi viện của Miền.

Hết rồi những vất vả gian nan, sống chui lủi giấu mình; hết rồi những ngày ăn đói nhịn khát, những giờ phút sống căng thẳng trên các gộp đá ở núi vỏ Bo Hong để chống địch vây quét, chịu đựng những trận đánh phá hủy diệt của bom đạn địch; hết rồi phải đối phó, phải đề phòng bọn biệt kích, thám báo lẻn lên nghe trộm, đánh lén ta ở các hang đá, dò la nơi ta đóng quân để chỉ điểm cho bom đạn địch giội xuống. Bây giờ đây chúng tôi sống công khai như một đơn vị chiến thắng, đàng hoàng vào tiếp quản vùng giải phóng, đang cùng các đồng chí địa phương làm nhiệm vụ “quân quản” một vùng sạch bóng quân thù, bộn bề những công việc xây dựng chính quyền, đoàn thể, lo tính công việc sản xuất và đời sống của nhân dân. Từ chiến sĩ đặc công, chúng tôi chuyển sang làm công tác dân vận, lo củng cố phong trào, xây dựng cơ sở...

Mười lăm ngày chiếm giữ làm chủ căn cứ Vĩnh Trung là mười lăm ngày chúng tôi được sống công khai trong tình thương mến, đùm bọc của nhân dân, được chứng kiến tinh thần phấn khởi đến ngỡ ngàng của nhân dân sau khi đã đồng loạt nổi dậy phá banh các ấp chiến lược, diệt bọn tề điệp ác ôn, về lại thôn ấp, được sống tự do, đi lại tự do, tự mình định đoạt các công việc đồng áng.

Chiến thắng Ba Xoài, Vĩnh Trung và sự hiện diện của chúng tôi ở đó đã có sức gây thối động mạnh mẽ cả miền Trung Nam Bộ, địch thì lúng túng hoang mang, nhân dân thì thừa thắng xốc tới, nổi dậy đấu tranh, làm chủ hai phần ba tổng số thôn ấp, tạo ra một vùng làm chủ rộng lớn, liên hoàn nối từ An Giang qua Vị Thanh xuống đến Rạch Giá, tạo thêm cái thế vững chắc cho cần cứ kháng chiến của ta đã được xây dựng ở U Minh, Rạch Giá và các huyện của vùng đất mũi Năm Căn (Cà Mau).

Địch muốn phân tuyến, với bao thủ đoạn tinh vi nham hiểm, định hất lực lượng vũ trang ta sang bờ bắc kênh Vĩnh Tế. Chúng muốn biến con kênh này thành trận tuyến phòng ngự bất khả xâm phạm, thì ngược lại, những cuộc vượt kênh Vĩnh Tế của các lực lượng vũ trang ta vẫn tiếp tục. Vĩnh Tế vẫn là hướng của những cuộc hành quân vu hồi của lực lượng vũ trang ta đánh vào phía sau trận tuyến phòng thủ chiến lược của địch. Mỗi lần vượt kênh tuy có mất mát hy sinh, nhưng chúng ta lại diệt được nhiều sinh lực địch, lại cắm chốt, lại hỗ trợ thêm nhân dân đấu tranh, tạo ra một thế đứng vững chắc thêm lên, một hình thái cài răng lược cứ rộng ra, ngay giữa vùng chiến thuật mà địch đặt ra nhiều hy vọng cả về kinh tế và quân sự cho toàn bộ âm mưu xâm lược miền Nam Việt Nam của chúng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn