Đại địa chấn tại Hạ nghị viện Pháp
Trên thực tế, ngay từ đầu năm 1930, nhất là sau cuộc Khởi nghĩa Yên Bái, báo chí Pháp đã quan tâm đưa tin về các sự biến ở xứ thuộc địa Đông Dương. Công luận Pháp, nhất là nhân dân lao động và các đảng phái cánh tả, như Đảng Cộng sản Pháp, Đảng Xã hội Pháp, Hội Nhân quyền v.v.. tỏ ra lo lắng, quan ngại, hoài nghi chính sách thống trị của thực dân Pháp ở Đông Dương và Việt Nam.
Đương nhiên, quan tâm sâu sắc nhất đến tình hình ở Việt Nam chính là những người Việt Nam đang sinh sống, lao động và học tập ở Pháp. Từ sau Chiến tranh Thế giới I, không chỉ số lượng người Việt Nam ở Pháp đã tăng lên đáng kể, mà quan trọng hơn ngày càng có thêm nhiều người, nhất là trí thức, sinh viên tham gia tích cực vào các phong trào yêu nước và cách mạng.
Đầu tháng 5-1930, Tổng hội sinh viên Việt Nam ở Pháp quyết định tổ chức một cuộc biểu tình trước điện Élysée và đưa kháng thư cho Tổng thống Pháp Gaston Doumergue đòi ân xá cho các chiến sĩ tham gia Khởi nghĩa Yên Bái. Nhiều truyền đơn được phân phát ở Paris, Marseille, Toulouse v.v.. phản đối thực dân Pháp thảm sát người dân vô tội ở Việt Nam. Ngày 22-5-1930, cuộc biểu tình đã diễn ra trước điện Élysée với sự tham gia của hơn 100 Việt kiều yêu nước, chủ yếu là thanh niên sinh viên và một số người Pháp tiến bộ. Trần Văn Giàu và Huỳnh Văn Phương dẫn đầu đoàn biểu tình, giương cao biểu ngữ và hô vang các khẩu hiệu phản đối việc đàn áp của Chính phủ thuộc địa Đông Dương. Cảnh sát Pháp đã giải tán cuộc biểu tình bằng vũ lực, 47 người bị bắt giữ, trong đó có 19 sinh viên. Sau 9 ngày bị giam giữ ở Khám Lớn (Santé), ngày 30-5-1930 số sinh viên này bị đưa thẳng đến cảng Marseille và bị trục xuất về nước theo lệnh của Tổng thống Pháp30.
Có thể nói, cuộc biểu tình này như một phát pháo hiệu nổ giữa thủ đô của nước Pháp, khiến cho không chỉ hàng nghìn người Việt Nam ở Pháp dồn sự chú ý về quê nhà mà còn làm cho công luận và chính giới Pháp phải quan tâm nghiêm túc hơn đến những gì đang diễn ra khốc liệt hàng ngày, hàng giờ ở xứ thuộc địa Đông Dương.
Và quả nhiên ngay sau đó, bão táp đã tràn từ Đông Dương sang đến Paris, tạo nên một cơn địa chấn mạnh mẽ trong chính giới Pháp, ngay tại diễn đàn Hạ nghị viện Pháp.
Trong thời kỳ này, Nghị viện Pháp được tổ chức theo Hiến pháp năm 1875, chia làm hai viện, gồm Thượng viện (Sénat) và Hạ nghị viện (Chambre des députés des départements). Trong khi Thượng viện là cơ quan đại diện cho các địa phương, Hạ nghị viện Pháp là cơ quan lập pháp, được thành lập do tổng tuyển cử. Có thể nói Hạ nghị viện là cơ quan tiêu biểu nhất của nền dân chủ đại nghị Pháp và cũng là diễn đàn tranh đấu sôi nổi và quyết liệt nhất giữa các chính đảng, tiêu biểu cho các giai cấp, các lực lượng và các xu hướng trong chính trường nước này.
Theo truyền thống của nước Pháp từ sau cuộc Đại cách mạng 1789, trong Hạ nghị viện Pháp, các xu hướng chính trị được phân biệt với nhau bằng những cách định danh như “phái tả”, “phái hữu”, “phái giữa” v.v.. Trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, các “phái” đó lại được đại diện bởi những chính đảng hoặc phong trào chính trị khác nhau. Ở thời điểm 1930-1931, hai đại diện lớn nhất của “phái tả” trong Hạ nghị viện Pháp là Đảng Cộng sản Pháp và Đảng Xã hội Pháp - là các chính đảng tự cho là đại diện của giai cấp cần lao, trí thức Pháp. Còn “phái hữu” được đại diện bởi một số đảng phái bảo thủ, như “Nước Pháp hành động”, “Cộng hòa” - là những chính đảng của giới tư bản tài chính, địa chủ, thực dân. Trong khi đó “phái giữa” tỏ ra yếu hơn và không ổn định, được tiêu biểu bằng các tổ chức như “Liên minh trung lập”, “Phong trào dân chủ” v.v.. Các đảng phái này trong Hạ nghị viện Pháp là nơi tập trung tinh hoa của chính giới Pháp, là nguồn cung cấp quan chức cho Chính phủ Pháp và chính phủ ở các xứ thuộc địa của Pháp. Trước mỗi vấn đề hệ trọng của nước Pháp các đảng phái này đều đấu tranh quyết liệt với nhau trong nghị trường. Và tất cả các cuộc đấu tranh nghị trường đó đều được báo chí Pháp tường thuật chi tiết, nhằm đáp ứng yêu cầu theo dõi và kiểm soát quyền lực của công luận và nhân dân nước Pháp - trên nguyên tắc là một quốc gia có truyền thống dân chủ đại nghị (parlamentary democracy) nổi tiếng nhất thế giới.
Vào ngày 23-2-1931, lần đầu tiên những cuộc tranh luận như vũ bão đã diễn ra trong Hạ nghị viện Pháp về một vấn đề của một xứ thuộc địa của Pháp: phong trào đấu tranh của nhân dân bản xứ ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh và chính sách đàn áp của chính phủ Pháp và chính phủ thuộc địa Đông Dương.
Toàn bộ các cuộc tranh luận này đã được tờ Journal Officiel de la Republique français đăng trọn vẹn trong loạt bài có tên là “Débats parlementaires”. Sau đó, thông tin về các cuộc tranh luận đó đã được một số tờ báo tiếng Pháp và tiếng Việt ở Việt Nam đưa tin. Riêng tờ Tiếng Dân của Huỳnh Thúc Kháng thì chuyển ngữ toàn bộ các bài của tờ báo Pháp nói trên rồi đăng tải liên tục từ số 382 (9-5-1931) đến số 392 (13-6-1931) dưới tiêu đề “Đông Dương tại Hạ nghị viện Pháp”. Việc làm này của báo Tiếng Dân rất có ý nghĩa, bởi nó cung cấp kịp thời những thông tin về phản ứng của chính giới chóp bu của Pháp đối với các cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam, nhất là khi những thông tin này lại luôn được đăng kèm theo những tin tức cập nhật về cao trào đấu tranh đang diễn ra ở Nghệ-Tĩnh và các địa phương khác.
Có thể tóm tắt cuộc tranh luận đó như sau: trong khi Bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp Paul Reynaud - một chính khách thuộc phái hữu, ra sức xuyên tạc bản chất của phong trào đấu tranh do Đảng Cộng sản lãnh đạo ở Việt Nam, đồng thời cố gắng bảo vệ, biện bạch cho các biện pháp đàn áp thẳng tay của chính phủ thuộc địa Đông Dương, thì nhiều chính khách phái tả, như André Marty, Jacques Doriot (Đảng Cộng sản Pháp), Marius Moutet, Alexandre Varenne, Léon Blum, Léon Archimbaud (Đảng Xã hội Pháp) v.v.. thì kịch liệt phản đối chính sách đàn áp tàn bạo của chính phủ thuộc địa Pháp.
Để hiểu đầy đủ và chính xác hơn những quan điểm và thái độ của chính giới Pháp khi đó về Cao trào cách mạng của nhân dân Việt Nam, cần thiết phải đi sâu hơn vào diễn biến cụ thể của cuộc tranh luận này.
Lúc đầu, Bộ thuộc địa Pháp không muốn đưa vấn đề này ra Hạ nghị viện. Chính nghị sĩ Lionel de Tasies đã vạch trần âm mưu đó và đưa vấn đề này vào chương trình nghị sự. Ông nói: “Thưa quan Tổng trưởng thuộc địa, không phải với tàu bay, với trái phá, với súng cối xay mà làm yên được xứ Đông Dương đâu!’. Đồng thời, ông cũng chỉ ra nguyên nhân của những sự biến ở Đông Dương: “Nhưng tôi chắc rằng trong việc cai trị có nhiều sự sai lầm mà sự tuyên truyền của cộng sản mới bành trướng được. Những sự sai lầm đó có cả về mặt chính trị và về mặt kinh tế”.
Bằng cách đặt vấn đề như thế, Lionel de Tasies đã buộc Hạ nghị viện Pháp phải xem xét và tranh luận về những gì đã và đang diễn ra ở Đông Dương.
Tiếp lời de Tasies, nghị sĩ Jacques Doriot nói: “Thưa các ngài! Tình hình Đông Dương rắc rối quá, muốn bàn cho thấu đáo thì phải bàn cho lâu”. Ông nhắc lại câu nói của Toàn quyền Đông Dương Pierre Pasquier, rằng “Nước Pháp chiếm xứ Đông Dương làm thuộc địa chỉ là vì sự lợi ích của xứ Đông Dương” và khẳng định: “Tôi hết sức phản đối câu nói ấy. Xem những công cuộc đã làm bên ấy - những công cuộc ấy ở đây mấy ai được biết rõ - thì thấy ngay nhiều điều trái ngược”33. Ngay sau đó, các nghị sĩ cánh tả nổi tiếng như Marius Moutet, Alexandre Varenne và M.L.O Frossard cùng lên tiếng đòi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa phải giải trình rõ tình hình Đông Dương và chính sách đàn áp của chính phủ thuộc địa Đông Dương. Ông Frossard cho biết rằng ông vừa đọc cuốn sách “Việt Nam” của Louis Roubaud và “Tôi đọc mà không khỏi rùng mình tức giận”. Ông đề nghị: “Chúng tôi muốn quan Tổng trưởng thuộc địa bỏ bớt những cách đàn áp bằng võ lực đã thi hành ở Đông Dương đối với thời cục hiện tại. Chúng ta phải đồng ý nhận rằng trong những cách đàn áp đó có nhiều cách quá tàn nhẫn, không xứng với danh dự nước ta”. Sau khi một lần nữa nhắc lại những biện pháp đàn áp khốc liệt của thực dân Pháp ở Việt Nam, vị nghị sĩ cánh tả này nói tiếp: “Như thế có phải là công lý của nước Pháp không. Không, tôi không tin như thế, mà các ngài chắc cũng không tin như thế. Chúng ta cả thảy đều yêu nước chúng ta, trước mặt cả các dân tộc trên thế giới, trước mặt các dân tộc thuộc địa của chúng ta, chúng ta phải làm thế nào cho nước chúng ta có cái thể diện một cách khác kia”.
Tiếp lời Frossard, nghị sĩ Léon Archimbaud nói: “Tôi có thể nói với Chính phủ, với quan Tổng trưởng thuộc địa, rằng nếu chúng ta không sửa đổi cách cai trị thì trong một vài năm nữa chúng ta sẽ mất hẳn xứ Đông Dương. Thế nào cũng phải sửa đổi mới đươc”. Lời phát biểu này ngay lập tức nhận được sự tán đồng của A. Varenne: “Đúng lắm!”
Đi xa hơn, Léon Archimbaud còn đòi đảm bảo những quyền tự do, dân chủ cơ bản cho nhân dân thuộc địa. Ông nói: “Chúng ta thờ chủ nghĩa dân chủ - điều ấy phải nói thiệt - thì chúng ta phải để cho dân Đông Dương được dự vào trong trường chính trị và cai trị ở xứ họ, phải mở rộng quyền hạn cho các Nghị viện Hội đồng của họ, phải để cho các đại biểu của họ được quyền nói hoàn toàn y như chúng ta. Nếu như không làm được như lời nói đó thì xứ Đông Dương sẽ là một trường hoạt động của Đảng Cộng sản, không sai. Chúng ta nên nhớ rằng chúng ta là một dân tộc cộng hòa, chớ nên đãi dân tộc bị chúng ta bảo hộ như tôi tớ nô lệ mà phải xem họ như anh em và hết lòng khai hóa cho họ; khi họ đã đến được trình độ tri thức như chúng ta thì còn phải để cho họ được hoàn toàn giải phóng mà đứng ra làm bạn ngang hàng với nước Pháp”.
Như thế là Archimbaud đã đi từ chỗ nhấn mạnh “bổn phận”, “danh dự” của nước Pháp tới chỗ lý tưởng hóa “sứ mệnh khai hóa” của người Pháp với tính cách là đại diện cho các lý tưởng “tự do, bình đẳng, bác ái”. Đây là động cơ, là căn cứ chủ yếu nhất để dựa vào đó mà các chính khách tả phái của Đảng Xã hội Pháp phê phán chính sách cai trị và đàn áp tàn bạo của thực dân Pháp ở Đông Dương-điều mà họ cho là một sự phản bội và sỉ nhục đối với dân tộc Pháp.
Trước sự công kích dữ dội của các chính khách tả phái, Bộ trưởng Bộ thuộc địa Paul Reynaud đã phải đăng đàn giải trình. Để biện bạch cho chính sách cai trị hà khắc và chính sách đàn áp thẳng tay của mình, ông ta đã cường điệu hóa các “nguy cơ” đối với xứ Đông Dương: đó chính là sự phát triển của phong trào cộng sản ở Trung Quốc, ở Nam Dương (sau này là Indonesia), Philippinnes, Miến Điện, Ấn Độ. Reynaud nói: “Xem cái địa điểm của Đông Dương như thế, các ngài có ai dám nói quyết rằng ở Đông Dương chủ nghĩa cộng sản không nảy nở ra được, hoặc không có hiệu lực kết quả không? Đông Dương hiện nay cũng đã rối rắm lắm rồi: truyền đơn báo chí mỗi ngày mỗi thấy rải phát. Báo ấy thứ thì ở trong nước in ra, thứ thì ở Quảng Châu, Hồng Kông, ở cả bên châu Âu đưa đến. Ngoài cách tuyên truyền bằng giấy mực ra lại còn cách tuyên truyền bằng miệng nữa”.
Paul Reynaud cho biết: ở Đông Dương những người chịu ảnh hưởng sâu sắc nhất của “tuyên truyền cộng sản” chính là cu ly (coolies - cách gọi công nhân hồi đó), mà theo ông ta thì: “Cu ly là hạng người nào? Là hạng người không học thức, không hiểu trật tự trong gia đình, trong làng xã là gì”.
Paul Reynaud vừa nói đến đây liền bị nghị sĩ cộng sản André Marty đập lại: “Cu ly là một hạng người bị các ông làm đói khát cực khổ, vì thế nên họ mới nghe hiểu các đảng viên cộng sản”.
Paul Reynaud nói tiếp: “Một người cu ly nghe giảng chủ nghĩa cộng sản ở các chốn thành thị khi về làng là một tay cổ động cộng sản. Sự tuyên truyền cộng sản rất là tài bộ, một mặt họ xúi chia đất ruộng, một mặt họ lợi dụng điều thích của người An Nam là làm quan và được mày đay kim khánh”.
Mặc dù cố tình xuyên tạc bản chất của phong trào cách mạng của nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản lãnh đạo, nhưng qua những gì mà Bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp nói, có thể thấy giới chính khách thực dân Pháp buộc phải thừa nhận ảnh hưởng to lớn và sâu sắc của Đảng trong quần chúng nhân dân, nhất là công nông.
Cho nên, Paul Reynaud không ngần ngại tuyên bố trước Hạ nghị viện Pháp: “Tôi không ưa biện bác, tôi chỉ nói ngay rằng: Giữa chúng ta với cộng sản không có gì khác hơn là võ lực; mà nói đến võ lực thì nhất định chúng ta phải giữ phần thắng. Bổn phận chúng ta là trước hết phải dùng thái độ cương quyết mà giữ gìn trật tự; nếu vì sợ hãi mà nhận những việc cải cách thì đảng cộng sản không khỏi tưởng là chúng ta yếu thế mà nổi lên chống với chúng ta. Việc đã rõ ràng, đảng cộng sản muốn đuổi nước Pháp ra khỏi Đông Dương. Đó, một cuộc chiến tranh giữa chúng ta và đảng cộng sản. Chống với đảng ấy là việc chúng ta sẽ làm cho tới nơi”.
Đây là lần đầu tiên một chính khách cao cấp của Pháp tuyên bố công khai cuộc chiến đến cùng chống lại phong trào cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Đáp lại rất gay gắt lời tuyên chiến của Paul Reynaud, nghị sĩ cộng sản André Marty nói: “Chống với các ông cũng là việc chúng tôi sẽ làm cho tới nơi!”.
Tiếp theo, Paul Reynaud giải trình cụ thể lý do mà thực dân Pháp đã sử dụng máy bay ném bom và súng liên thanh để đàn áp các cuộc biểu tình của quần chúng hồi tháng 8 và tháng 9-1930, nhất là cuộc biểu tình ở Thanh Chương ngày 12-9-1930. Trả lời câu hỏi của Marius Moutet “Đó có phải là những cuộc biểu tình thường không?”, Paul Reynaud nói: “Không! Dân biểu tình có khí giới kéo đến đánh huyện lỵ nầy, phá phủ lỵ kia, họ hành động có ý thức, họ biết họ làm cách mệnh”. Paul Reynaud biện bác cho việc sử dụng bạo lực đàn áp của thực dân Pháp: “Ba toán biểu tình kể đến mấy nghìn người từ phía Tây Bắc và phía Đông kéo đến Vinh. Chúng ta chỉ có 77 người lính khố xanh trỏm trẻm, không ngăn họ lại được, họ đến phủ lỵ Hưng Nguyên. Khi đó, đối phó với họ chỉ còn một cách thôi, là dùng máy bay ném bom. Ban đầu tàu bay bay thấp, hô giải tán, nhưng dân biểu tình cũng một mực đi tới. Tình hình nguy khẩn. Một quả bom ném xuống, 15 người chết, còn bao nhiêu cũng cứ đi tới luôn. Một quả bom thứ hai ném xuống, 107 người chết. Khi ấy dân mới tản”. Paul Reynaud cũng dẫn ra cả báo cáo của Toàn quyền Pierre Pasquier để minh họa thêm cho lời phát biểu của mình.
Dù là mô tả với mục đích để biện bạch cho các biện pháp đàn áp, vô tình Bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp đã phải thừa nhận tinh thần giác ngộ cách mạng rất cao và ý chí chiến đấu bất khuất, khí thế ngút trời của các cuộc biểu tình của nhân dân Nghệ An trong cao trào cách mạng 1930-1931.
Để tiếp tục biện giải về chính sách đàn áp của thực dân Pháp, Paul Reynaud cho biết: nhờ có các biện pháp cứng rắn như vậy mà tình hình Đông Dương đã yên ổn trở lại, hàng chục nghìn người đã xin “quy thuận” chính phủ thuộc địa. Tuy nhiên, ông ta cũng khẳng định rằng chưa thể chấm dứt được các biện pháp đàn áp bằng vũ lực, bởi vì: “Gì thì gì, chúng ta không thể vì một tính câu nệ riêng của người Pháp mà bỏ hết những dân lương thiện xứ Đông Dương hiện đương bị đảng cách mệnh dọa nạt”; Và: “Đảng Cộng sản Đông Dương hiện nay thế lực còn vững vàng lắm, không ai dám đảm bảo đã tiêu rồi được. (...) Ai biết rõ sự hành động của những tay lãnh tụ chăm chăm đuổi chúng ta ra khỏi xứ Đông Dương thì cũng phải công nhận lời tôi nói đó”.
Để ít nhiều xoa dịu phản ứng của các nghị sĩ cánh tả, Paul Reynaud cũng bèn phải nói: “Nhưng tôi nghĩ rằng nước Pháp sẽ làm trái bổn phận của mình nếu chỉ lo một cách đàn áp mà không lo đến những việc cải cách”. Ngay lập tức André Marty đập lại gay gắt: “Cải cách bằng đoạn đầu đài!”. Reynaud phớt lờ sự công kích của Marty, tiếp tục ra sức khoe khoang thành tựu “khai hóa”, “cải cách” của thực dân Pháp ở Đông Dương: “Ở xứ Đông Dương ngày nay canh nông và kỹ nghệ phát đạt không khác gì ở Pháp đây: kia những sở máy dùng đến hàng mấy nghìn thợ, nọ những sở đồn điền dùng đến hàng mấy nghìn cu ly. Xứ Đông Dương ngày nay đã có thể gọi là một liệt cường kinh tế, chớ không phải như xứ Đông Dương ngày trước”.
Thái độ bất chấp, vừa khăng khăng bảo vệ chính sách đàn áp khốc liệt, vừa cường điệu khoe khoang thành tựu như trên của Bộ trưởng Bộ thuộc địa đã vấp phải sự phê phán kịch liệt của các nghị sĩ là đảng viên Đảng Cộng sản và Đảng Xã hội Pháp.
Nghị sĩ cộng sản André Marty đăng đàn. Trước hết, ông gay gắt lên án việc chính phủ thuộc địa quy kết hàng nghìn người biểu tình bị bắt ở Nghệ-Tĩnh là “tù thường phạm” rồi đày họ đi tận Guyane. Ông khẳng định họ chỉ là những người dân bình thường, đi biểu tình để đòi cơm áo và những quyền lợi cơ bản chính đáng. Vì vậy, không thể xét xử họ như những tù hình sự rồi giết hại họ bằng cách đày đi biệt xứ. “Những tù phạm bị đày đi Guyane cũng như là bị tử hình, mà bị tử hình bằng một cách đau đớn hơn nữa kia. Chúng tôi không thể nào chịu để làm như thế được”. Đáp trả những lời khoe khoang về thành tựu “cải cách” của Paul Reynaud, André Marty nói: “Này quan Tổng trưởng thuộc địa! Ngài quên nói đến những điều cải cách về độc quyền thuốc phiện và về độc quyền rượu. Như thế là ngài còn muốn dùng hai thứ ấy mà làm cho người Annam mê muội, nằm mãi trong địa vị nô lệ mà tự họ không biết chớ gì!”.
Đến lượt một đại diện của Đảng Xã hội Pháp, nghị sĩ Marius Moutet phát biểu. Có lẽ Moutet đã chuẩn bị ý kiến của mình rất công phu nên ông đã phân tích sâu sắc những mặt trái của chính sách thực dân hóa của người Pháp đã và đang được áp dụng ở Việt Nam và Đông Dương. Rồi ông khẳng định: “Thưa các ngài, ở Đông Dương hạt giống bất bình đã được gieo quá nhiều rồi. Một đôi điều cải cách nhỏ mọn nói ở diễn đàn này không đủ làm cho tiêu hết được đâu. Cần phải cải cách nhiều điều to lớn kia: như đổi các chế độ, như thay cái “não” của người cầm quyền cái trị”.
Bàn về chính sách đàn áp của thực dân Pháp ở Đông Dương, Marius Moutet đã đưa cuộc tranh luận đến một tầm vóc khác to lớn và sâu sắc hơn. Ông nói: “Tôi không chống với chính sách “thẳng tay”. Nhưng tôi nhận rằng đã dùng thì phải dùng đối với tất cả mọi người. Ở Đông Dương có lắm người Pháp làm cho dân bản xứ phải hoài nghi công cuộc và mục đích của nước Pháp ở đấy; Đối với những người ấy thì phải dùng chính sách “thẳng tay” Moutet chỉ ra cái động cơ tâm lý nằm ẩn sâu trong thái độ và chính sách của thực dân Pháp đối với người bản xứ mà ông gọi là “chế độ chủng tộc giai cấp”. Ông nói: “Chúng tôi nhắc lại rằng tâm lý phần nhiều người Pháp ở Đông Dương thật hết sức đáng phàn nàn. Họ xem họ là “chúa” ở trong một xứ đã xâm chiếm được, xem dân bản xứ là ở dưới xa họ, đáng khinh bỉ, rẻ rúng”.
Sau những lập luận hệ thống, chặt chẽ, Marius Moutet đi đến chỗ xác quyết lập trường của mình cũng như của Đảng Xã hội Pháp: “Chúng tôi chỉ binh vực chân lý, chỉ lo tìm những nguyên nhân sâu xa của tấn kịch máu chảy thây chồng ở Đông Dương, và nghĩ phương pháp làm cho tấn kịch ấy không còn có nhịp xảy ra nữa”.
Và đây là lời tuyên bố đanh thép của Marius Moutet - và vì những lời này ông sẽ được giới chính khách thực dân bảo thủ mệnh danh là “thủ lĩnh chiến tranh của người bản xứ”: “Chúng tôi tuyên bố to lên rằng: Nếu nước Pháp chỉ còn một cách là phải giết, phải chém, phải dùng vũ lực mới có thể ở lại trong đất Đông Dương được, thì thà cuốn gói về ngay đi là hơn”.
Trong phần còn lại của bài phát biểu, Marius Moutet phân tích và phê phán mạnh mẽ các phiên tòa do Hội đồng Đề hình thực dân lập ra và xét xử các chiến sĩ yêu nước và cách mạng Việt Nam. Ông không những vạch trần các thủ đoạn biến chính trị phạm thành thường phạm để trừng phạt họ rất nặng nề, các phiên tòa còn trắng trợn vi phạm nhân quyền và pháp luật tố tụng của nước Pháp v.v.. Những lời cáo buộc của Moutet vấp phải sự phản ứng dữ dội của các chính khách phái hữu, như Ernest Outrey, Paul Reynaud và hai cựu Bộ trưởng Bộ thuộc địa là Francois Piétri và Théodore Steeg. Phía cánh tả có Alexandre Varenne cũng lên tiếng, sát cánh cùng Moutet.
Cuộc tranh luận ngày càng gay gắt, sau đó có cả sự tham gia của một chính khách cánh tả nổi tiếng khác là Léon Blum, người “lấy làm đau đớn và hổ thẹn” khi phải nói to trước Hạ nghị viện Pháp rằng: “Nếu Chính phủ cứ khăng khăng một mực dùng vũ lực, dùng sự khủng bố mà giữ được xứ Đông Dương, thì tôi sẽ tán đồng ý kiến bỏ hết cả các thuộc địa”.
Lời tuyên bố của Léon Blum gây chấn động mạnh chính giới chóp bu Pháp. Đây là lần thứ ba trong cuộc tranh luận này các chính khách phái tả đòi thủ tiêu chế độ thực dân Pháp. Lập tức, phản ứng của các chính khách thực dân phái hữu cũng rất quyết liệt. Bộ trưởng Bộ thuộc địa Paul Reynaud nói: “Ông Léon Blum này, tôi chắc ông biết rằng hiện nay các nước trên thế giới đều có một kẻ cừu địch chung. Chúng tôi, chính phủ, quyết chiến với kẻ cừu địch ấy đến kỳ cùng. Vừa chiến với kẻ cừu địch ấy, vừa thi hành những điều cải cách. Đó là công chuyện chúng tôi làm”.
“Kẻ cừu địch” mà Paul Reynaud nói đó chính là phong trào cộng sản thế giới. Như thế là ông ta đã khoác thêm cho chính sách đàn áp “thẳng tay” của thực dân Pháp một tấm áo choàng pháp lý mới (bên cạnh việc “bảo vệ lương dân” và bảo vệ trật tự thực dân ở thuộc địa) - đó là chống chủ nghĩa cộng sản.
Ông Blum cũng đáp trả với giọng điệu còn gay gắt hơn: “Phải! Nhưng không được dùng người An Nam làm cái thớt bằm. Không được giết người An Nam!”.
Paul Reynaud liền trả lời: “Đó là một điều khó. Phải chi kẻ cừu địch kia trực tiếp với chúng ta thì tiện biết là bao nhiêu. Nhưng không thế, họ chỉ ở đâu bên Quảng Châu kia mà hô: đả đảo đế quốc Pháp. Dân An Nam nghe theo họ nổi lên chống với chúng ta thành ra bị giết.” Và ông ta tuyên bố trắng trợn: “Dầu các ông có công kích chính sách đó mặc lòng, chúng tôi cũng cứ thi hành”.



