Bài viết

Đại đội 11 bộ binh Anh hùng

Gia Lai17/05/2026Ban Biên tập tổng hợp1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đại đội 11 bộ binh Anh hùng

Đại đội 11 bộ binh, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 88, Sư đoàn 308 (tiền thân là Đại đội 225 thuộc Tiểu đoàn 517 của Liên Khu 1, thành lập ngày 01/4/1947 tại đình làng Sậy thị trấn Nhã Năm (Bắc Giang)[1]. Khi về xây dựng Trung đoàn 88 (ngày 01/7/1949), Tiểu đoàn 517 đổi phiên hiệu thành Tiểu đoàn 322, đến tháng 6/1955 Tiểu đoàn 322 đổi tên thành Tiểu đoàn 6, Đại đội 225 đổi tên thành Đại đội 11.Trưởng thành trong kháng chiến chống thực dân PhápNgay khi mới thành lập, ngày 23/11/1947 (Chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông năm 1947), Đại đội 225 đã lập công ở chính nơi ra đời của mình là làng Sậy, thị trấn Nhã Nam, Bắc Giang. Trong cuộc chiến đấu chống địch càn quét, đại đội vừa anh dũng chiến đấu chặn địch tiến vào làng, vừa khôn khéo bố trí trận địa mìn trên một quả đồi cao lừa địch lên đó để tiêu diệt, sau một ngày chiến đấu đại đội đã diệt và bắt 50 tên địch[2].Từ ngày 1/7/1949, Đại đội 225 chiến đấu trong đội hình Tiểu đoàn 322 thuộc Trung đoàn 88 và lập công xuất sắc.Chiến dịch Biên giới năm 1950, Đại đội 225 tiến công điểm cao 608 do một đại đội địch đang chiếm giữ, sau 3 giờ chiến đấu đại đội đã đánh bật chúng khỏi mỏm đồi 608 tiêu diệt hơn nửa số quân dịch, thu toàn bộ vũ khí của chúng.Chiến dịch Trung Du (Chiến dịch Trần Hưng Đạo) tháng 12/1950, Đại đội 225 chiến đấu trong đội hình Tiểu đoàn 322 đảm nhiệm mũi chủ công đánh đồn Hữu Bằng, chỉ sau 45 phút chiến đấu Tiểu đoàn 322 đã diệt gọn đồn Hữu Bằng, tiêu diệt và bắt sống một đại đội Âu phi và ngụy binh của địch thu toàn bộ vũ khí và quân trang, quân dụng trong đồn.Chiến dịch Hòa Bình năm 1951, Đại đội 225, Tiểu đoàn 322 được giao nhiệm vụ đánh vào khu C cứ điểm Tu Vũ, trận đánh diễn ra rất ác liệt sau khoảng 2 giờ chiến đấu Tiểu đoàn 322 đã làm chủ hoàn toàn khu C cứ điểm Tu Vũ. Góp phần cùng trung đoàn làm chủ cứ điểm Tu Vũ diệt 155 tên địch, 12 tên bị bắt, ta bắn cháy 2 xe tăng, 2 xe thiết giáp, phá huỷ 5 khẩu pháo và thu một số lượng vũ khí, đạn dược[3].Chiến dịch Tây Bắc năm 1952, Đại đội 225, Tiểu đoàn 322 được Bộ Tư lệnh Đại đoàn 308 tăng cường cho Trung đoàn 102 đánh cứ điểm Pú Chạng, sau khi cùng Trung đoàn 102 đánh xong cứ điểm Pú Chạng, đại đội, tiểu đoàn về đội hình Trung đoàn 88 đánh cứ điểm Nghĩa Lộ, làm chủ cứ điểm cùng trung đoàn diệt và bắt 280 tên địch.Tiểu đoàn 322 tham gia phòng ngự tại Hồng Lếch Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, Đại đội 225 nằm trong đội hình chiến đấu của Tiểu đoàn 322 tham gia đánh cứ điểm Độc Lập và trận phòng ngự Pe Luông, Hồng Lếch, cán bộ, chiến sĩ đại đội chiến đấu vô cùng dũng cảm, nhiều cán bộ, chiến sĩ bị thương nặng vẫn kiên quyết không rời trận địa, đánh lui nhiều đợt xung phong của địch, góp phần cùng trung đoàn và các đơn vị bạn đánh bại hoàn toàn tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.Lập công xuất sắc trong kháng chiến chống đế quốc MỹTrong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ cứu nước, Đại đội 225 đổi phiên hiệu là Đại đội 11, Tiểu đoàn 322 đổi tên thành Tiểu đoàn 6 chiến đấu trong đội hình Trung đoàn 88, Sư đoàn 308. Đại đội đã cùng tiểu đoàn, trung đoàn tham gia liên tục 3 chiến dịch lớn: Khe Sanh 1968; Đường 9 - Nam Lào năm 1971 và Quảng trị năm 1972. Chiến dịch nào đại đội cũng chiến đấu dũng cảm linh hoạt, khắc phục mọi khó khăn gian khổ, ác liệt, tích cực tiến công tiêu diệt địch có nhiều trận đạt hiệu xuất chiến đấu cao.Chiến dịch Khe sanh năm 1968, Đại đội 11 (lúc này lấy phiên hiệu là Đại đội 13) tăng cường cho Tiểu đoàn 4 tiến công điểm cao 690 (Phú Nhoi) lần thứ 2, ngày 18/6/1968. Đại đội 13 đảm nhiệm mũi chủ yếu đánh lên mỏm số 1, sau khi chiếm được trận địa đầu cầu, Đại đội 13 bị ổ đại liên địch bắn ngăn chặn không phát triển được, xạ thủ trung liên Nguyễn Văn Nha ném một quả lựu đạn rồi lợi dụng khói lựu đạn nổ che khuất đứng thẳng người trên sườn đồi dùng trung liên bắn thẳng vào ổ đại liên địch. Hoả lực địch bất ngờ bị khống chế, chớp thời cơ cán bộ, chiến sĩ Đại đội 13 bật dậy xung phong nhanh chóng tiêu diệt địch. Nguyễn Văn Nha bị địch bắn gẫy xương quai hàm nhưng vẫn cắn răng chịu đau bắn yểm trợ đồng đội tiến lên đánh chiếm được mỏm 1 trên dãy điểm cao 690.Dũng sĩ diệt Mỹ Nguyễn Văn Nha (người ngồi giữa), chiến sĩ Đại đội 11 cùng đồng đội bàn cách bắn máy bay địch tại điểm cao 690 (Phú Nhoi), ngày 18/6/1968 Chiến dịch Khe Sanh năm 1968Trước nguy cơ bị tiêu diệt gọn, địch dùng phi pháo cùng với hàng chục trực thăng vũ trang đánh phá dữ dội hòng ngăn cản quân ta tiến công. Cán bộ, chiến sĩ Đại đội 13 không quản hy sinh, dũng cảm chiến đấu, tiêu biểu như xạ thủ trung liên Nguyễn Văn Nha dùng súng trung liên đứng giữa chiến hào nhắm vào chiếc trực thăng gần nhất nhả đạn, loạt đạn chính xác làm chiếc trực thăng bốc cháy như một bó đuốc giữa bầu trời Phú Nhoi khiến những chiếc máy bay khác không dám lao vào gần để bắn phá. Gương chiến đấu Nguyễn Văn Nha bắn rơi máy bay địch bằng súng bộ binh phối hợp với hoả lực của các phân đội phòng không khác của ta bố trí ở các điểm cao quanh Phú Nhoi đã hạn chế rất nhiều mức độ bắn phá của máy bay địch, tạo điều kiện cho các mũi bộ binh tổ chức tiến công tiêu diệt hầu hết lực lượng của Tiểu đoàn 3 lính thuỷ đánh bộ Mỹ trên điểm cao 690 (Phú Nhoi)[4]. Kết thúc chiến dịch chiến sĩ Nguyễn Văn Nha được cấp Danh hiệu “dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú”Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971, Tiểu đoàn 6, chia làm 2 mũi đánh chiếm mỏm 2 cứ điểm 500, Đại đội 11 đảm nhiệm mũi tiễn công chủ yếu của tiểu đoàn. 22 giờ ngày 18/2/1971, bộ đội ta đã vào vị trí xuất phát xung phong bí mật, Đại đội 11 chỉ còn cách hàng rào thép gai địch khoảng 30m. Theo kế hoạch hiệp đồng, 23 giờ ngày 18/2, Đại đội 11 làm nhiệm vụ mở cửa làm hiệu lệnh đánh 1 quả mìn định hướng. Quả mìn nổ, đã quét đi một mảng lớn hàng rào và 2 tên địch ở công sự tiền tiêu, tạo điều kiện cho bộ phận đánh chiếm đầu cầu tiến lên.Di ảnh của Anh hùng Phạm Văn Đỡ, Trung đội phó Đại đội 11, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 88, Sư đoàn 308 lập công xuất sắc trong trận đánh mỏm 2 cứ điểm 500, ngày 18/2/1971 (chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971).Sau tiếng nổ lớn, Đại đội trưởng Kính dẫn đầu Đại đội 11 vượt qua cửa mở đánh thẳng vào trung tâm mỏm 2 chiếm được 1 công sự chiến đấu của địch thì bị 1 khẩu đại liên địch bắn cản đường. Chiến sĩ Dương Hải Đăng đề nghị Đại đội trưởng Kính bắn yểm trợ cho anh bò lên dùng lựu đạn tiêu diệt khẩu đại liên địch, hoả điểm bị dập tắt Đại đội Kính bật dậy hô xung phong, chiến sĩ Phạm Văn Đỡ theo sau Đại đội trưởng tả xung hữu đột, dùng tiểu liên AK diệt đến tên địch thứ 17 thì bị thương vào chân, Đại đội trưởng Kinh hy sinh. Trước tình thế đó, Nguyễn Hữu Sự, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 nhanh chóng tổ chức gấp một mũi xung kích gồm một số chiến sĩ Đại đội 10, một số chiến sĩ cơ quan tiểu đoàn bộ do chính anh chỉ huy bất ngờ đánh theo một hướng khác lên mỏm 2. Được tăng cường lực lượng 3 mũi tiến công của Tiểu đoàn 6 đã nhanh chóng cùng tiến công, sau 20 phút chiến đấu Tiểu đoàn 6 đã làm chủ hoàn toàn mỏm 2 cứ điểm 500 diệt 1 đại đội địch[5], tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị bạn đánh chiếm các mỏm còn lại diệt gọn Tiểu đoàn 39 biệt động quân mở tung cánh cửa phía bắc của chiến dịch.Chiến dịch Quảng Trị năm 1972, trong trận tiến công giải phóng Đông Hà của Sư đoàn 308 ngày 27 và 28/4/1972, Đại đội 11 đã nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh tổ chức truy kích địch chạy từ Đông Hà về Lai Phước, diệt 100 tên địch. Trận đánh điểm cao 35 Cầu Nhì (nam Mỹ Chánh) ngày 26/5/1972, Đại đội 11 đã nêu cao ý chí chiến đấu, kiên quyết tiến công, vừa hành quân tới là bước vào chiến đấu ngay tiêu diệt gọn 1 đại đội và đánh thiệt hại nặng sở chỉ huy tiểu đoàn địch chiếm giữ điểm cao 35.Tham gia chiến đấu bảo vệ thành cổ Quảng Trị, từ ngày 27/7/1972 đến ngày 16/9/1973, Đại đội 11 chiến đấu trên hướng Tây Nam thị xã Quảng Trị, chốt giữ ở khu vực ngã tư đường 1 và ngã ba Long Hưng chịu đựng hàng trăm tấn bom đạn, đánh bại hàng trăm đợt tiến công của địch, diệt hơn 300 tên và 5 xe tăng của chúng.Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Đại đội 11, Tiểu đoàn 6 đã diệt và bắt 800 tên địch, bắn cháy 5 xe tăng, đại đội đã được tặng thưởng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhì, 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất, đơn vị quyết thắng năm 1971 và năm 1972. Ngày 24/01/1973, Đại đội 11 được tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng Ba và Danh hiệu “Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”[6]. Ngày 23/9/1973, đồng chí Phạm Văn Đỡ, Trung đội phó Đại đội 11, Tiểu đoàn 66, Trung đoàn 88, Sư đoàn 308 được tuyên dương Danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân”.Kỷ vật của Đại đội 11 bộ binh Anh hùngKhông gian trưng bày hình ảnh, kỷ vật gắn với chiến công vẻ vang của các anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân tại Bảo tàng Binh đoàn quyết thắng.Tại Bảo tàng Binh đoàn quyết thắng đang lưu giữ và trưng bày một số hình ảnh, kỷ vật như Di ảnh và khẩu súng tiểu liên AK (có số đăng ký 191/K3-36) của Anh hùng Phạm Văn Đỡ, Trung đội phó Đại đội 11, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 88, Sư đoàn 308 sử dụng trong trận đánh mỏm 2 cứ điểm 500, ngày 18/2/1971 (chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971); khẩu súng trung liên (có số đăng ký 190/K3-35) của dũng sĩ diệt Mỹ Nguyễn văn Nha, chiến sĩ Đại đội 11, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 88, Sư đoàn 308 sử dụng trong trận đánh điểm cao 690 Phú Nhoi lần thứ 2, ngày 18/6/1968 (Chiến dịch Khe Sanh năm 1968) và khẩu súng trung liên (có số đăng ký 530/K3-192) của xạ thủ trung liên Phạm Duy chiến sĩ Đại đội 11, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 88, Sư đoàn 308 sử dụng trong trận đánh điểm cao 35 Cầu Nhì nam sông Mỹ Chánh, ngày 26/5/1972 (Chiến dịch Quảng Trị năm 1972).Súng tiểu liên AK của Anh hùng Phạm Văn Đỡ, Trung đội phó Đại đội 11 Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 88, Sư đoàn 308 sử dụng trong trận đánh mỏm 2 cứ điểm 500, ngày 18/2/1971 (chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971)Súng trung liên của dũng sĩ diệt Mỹ Nguyễn văn Nha, chiến sĩ Đại đội 11, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 88, Sư đoàn 308 sử dụng trong trận đánh điểm cao 690 Phú Nhoi lần thứ 2, ngày 18/6/1968 (Chiến dịch Khe Sanh năm 1968).Súng trung liên của Phạm Duy chiến sĩ Đại đội 11, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 88, Sư đoàn 308 sử dụng trong trận đánh điểm cao 35 Cầu Nhì nam Sông Mỹ Chánh, ngày 26/5/1972 (Chiến dịch Quảng Trị năm 1972).Những kỷ vật quý này gắn liền với những chiến công của cán bộ, chiến sĩ Đại đội 11 Anh hùng thuộc Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 88, Sư đoàn 308 để tuyên truyền, giáo dục truyền thống Tu Vũ của Trung đoàn 88 anh hùng và truyền thống “Tiên phong, anh dũng, đoàn kết, kỷ luật, thần tốc, quyết chiến, quyết thắng” của Đại đoàn Quân tiên phong anh hùng.Không gian trưng bày hình ảnh, hiện vật gắn với chiến công vẻ vang của cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 308 tại Bảo tàng Binh đoàn quyết thắng.Bước vào thời kỳ mới, từ năm 1990, Trung đoàn 88 thực hiện biên chế khung thường trực làm nhiệm vụ huấn luyện dự bị động viên, huấn luyện chiến sĩ mới và bảo quản vũ khí trang bị kỹ thuật. Nhiệm vụ của Đại đội 11, Tiểu đoàn 6 là tổ chức huấn luyện quân nhân dự bị là các sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ đã xuất ngũ thuộc các huyện Ba vì, Hoài Đức thành phố Hà Nội. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao chỉ huy Trung đoàn đã chỉ đạo cho các đại đội cử cán bộ xuống liên hệ chặt chẽ với Đảng bộ, chính quyền và cơ quan quân sự địa phương để nắm chắc về số lượng, chất lượng của quân nhân dự bị. Do đó chất lượng huấn luyện quân nhân dự bị của Đại đội 11 luôn đạt kết quả cao, tham gia diễn tập chiến thuật có bắn đạn thật cho một tiểu đoàn dự bị động viên (thiếu). Đại đội 11, Tiểu đoàn 6 đều hoàn thành tốt nhiệm vụ, bảo đảm an toàn tuyệt đối.Tự hào với truyền thống Trung đoàn Tu Vũ Anh hùng, ngày nay trong giai đoạn đổi mới, hội nhập và phát triển, cán bộ, chiến sĩ Đại đội 11 Anh hùng quyết tâm xây dựng "đơn vị mững mạnh toàn diện, mẫu mực tiêu biểu", không ngừng phát huy bản chất tốt đẹp, truyền thống chiến đấu, xây dựng mà các thế hệ cha anh đã dầy công xây đắp. Nguyện trung thành vô hạn với Đảng, Tổ Quốc và Nhân dân, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện học tập và làm theo "Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" nâng cao trình độ năng lực, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Tô thắm thêm truyền thống “Tiên phong, anh dũng, đoàn kết, kỷ luật, thần tốc, quyết chiến quyết thắng” của Đại đoàn Quân tiên phong anh hùng./.[1] Lịch sử Trung đoàn 88 (Tu Vũ) (1949-1999); Nxb QĐND; tr31.[2] Sách đơn vị anh hùng và anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Sư đoàn 308, đơn vị tự xuất bản năm 1994; tr16.[3] Lịch sử Trung đoàn 88 (Tu Vũ) (1949-1999); Nxb QĐND; tr89.[4] Sách đơn vị anh hùng và anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Sư đoàn 308, đơn vị tự xuất bản năm 1994; tr82.[5] Lịch sử Trung đoàn 88 (Tu Vũ) (1949-1999); Nxb QĐND; tr169.[6] Sách đơn vị anh hùng và anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Sư đoàn 308, đơn vị tự xuất bản năm 1994; tr19.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn