Anh hùng Lực lượng vũ trang

Đại đội 7 Anh hùng thuộc Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 102, Sư đoàn 308

Đại đội hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chốt giữ điểm cao 311 được mệnh danh là “chốt thép” trên Đường số 9, góp phần xứng đáng vào thắng lợi Chiến dịch Đường số 9 - Nam Lào năm 1971, được tặng danh hiệu đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Đồng Tháp10/08/2026xã Tân Đông (Xã Tân Đông)9 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đại đội 7, Tiểu đoàn 8 trong kháng chiến chống thực dân Pháp

Đại đội Bộ binh 7 thuộc Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 102, Sư đoàn 308 (tiền thân là Đại đội 273 thuộc Trung đoàn Liên Khu 1) được thành lập cùng thời gian với Trung đoàn 102 (Trung đoàn liên khu 1) ra đời giữa lòng thủ đô Hà Nội, ngày 6/1/1947.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đại đội 273 thuộc Tiểu đoàn 54, Trung đoàn 102, đại đội chiến đấu trong đội hình tiểu đoàn, trung đoàn đã lập nhiều chiến công xuất sắc ở các chiến trường: Liên Khu 1 (Hà Nội), Việt Bắc, Đông Bắc, Biên Giới, Trung Du, Hà Nam Ninh, Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên Phủ. Trận đánh cứ điểm Non Nước (Chiến dịch Hà Nam Ninh, tháng 5/1951) Đại đội 273 đảm nhiệm mũi tiến công chủ yếu của Tiểu đoàn 54 đã lập công xuất sắc cùng các đơn vị bạn diệt và bắt toàn bộ quân địch trong cứ điểm Non Nước gồm 180 tên[1].

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, Đại đội 273 chiến đấu trong đội hình Tiểu đoàn 54, Trung đoàn 102, Đại đoàn 308 có nhiệm vụ đánh địch phản kích chốt giữ đồi C1. Ngày 31/3/1954, tướng Đờ-cát chỉ huy Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đã sử dụng một tiểu đoàn lính dù cơ động có xe tăng đi cùng, được máy bay và pháo binh hỗ trợ tổ chức 7 cuộc tiến công lên trận địa đồi C1 (trận địa Đại đội 273 đang chốt giữ).

Mặc dù quân địch có lực lượng đông hơn hẳn nhưng với tinh thần chiến đấu dũng cảm ngoan cường, quên mình, không ăn, không nghỉ cán bộ, chiến sĩ Đại đội 273 đã đánh bại cả 7 đợt tiến công của địch. Có lần địch đã chiếm được nửa đồi C1, song cán bộ, chiến sĩ Đại đội 273 đã mưu trí, dũng cảm sử dụng bộc phá ống có gắn kíp nổ lao vào xe tăng và đội hình quân địch không cho chúng tiến lên, chớp thời cơ cán bộ, chiến sĩ Đại đội 273 dũng cảm đánh bật quân địch ra khỏi trận địa đồi C1, diệt 100 tên địch, giữ vững trận địa, tạo điều kiện thuận lợi cho Trung đoàn 102 và các đơn vị bạn tiến công tiêu diệt quân địch ở đồi A1[2].

Thành tích lẫy lừng trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ

Bước vào cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ cứu nước, Đại đội 273 đổi phiên hiệu thành Đại đội 7 thuộc Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 102, Sư đoàn 308. Trong đội hình chiến đấu của Trung đoàn Thủ đô, Đại đội 7 tham gia 3 chiến dịch lớn: Chiến dịch Khe Sanh năm 1968, Đường 9 - Nam Lào năm 1971 và Chiến dịch Quảng Trị năm 1972. Cán bộ, chiến sĩ Đại đôi 7 luôn nêu cao tinh thần chiến đấu, anh dũng lập công, mưu trí, sáng tạo, phát huy trí tuệ tập thể, đạt hiệu suất chiến đấu cao, dù hy sinh, gian khổ, ác liệt đến mấy cũng kiên quyết vượt qua, hoàn thành nhiệm vụ cấp trên  giao.

Đồng chí Nguyễn Văn Tấn (người đội mũ), Chính trị viên Đại đội 7 anh hùng phổ biến nhiệm vụ chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ Đại đội trên chốt 311 (Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971).

Cán bộ, chiến sĩ Trung đội 2, Đại đội 7, Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 102 trước ngày hành quân tham gia Chiến dịch Khe Sanh năm 1968.

Cán bộ, chiến sĩ Đại đội 7, Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 102 chiến đấu đánh địch tập kích ở Đồi Bằng, Làng Cát, Quảng Trị (Chiến dịch Khe Sanh năm 1968).

Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971, Đại đội 7 chiến đấu trong đội hình Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 102, Sư đoàn 308 đã lập công xuất sắc trong nhiệm vụ chốt chặn địch tại điểm cao 311 (nằm ở phía Bắc Đường số 9, chân điểm cao tiếp giáp với Đường số 9), để chia cắt Đường số 9, cô lập cánh quân trung tâm của địch, góp phần quan trọng xứng đáng vào thắng lợi của chiến dịch.

Cán bộ, chiến sĩ Đại đội 7 chiến đấu ngăn chặn địch tại chốt 311 (Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971).

Trận đánh ngày 4/3/1971, địch đưa 11 xe tăng và xe vận tải chở lính thuộc Lữ đoàn 2 dù đổ quân ngay chân điểm cao 311, chớp thời cơ đồng chí Nguyễn Minh Tước, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 8 chỉ huy cán bộ, chiến sĩ Đại đội 7 sử dụng hỏa lực tiến công mãnh liệt vào đoàn xe, sau vài loạt đạn 9 xe của địch đã bị bắn cháy, 2 chiếc còn lại định chạy thoát nhưng đi chưa đầy 200m chúng đã bị một bộ phận Đại đội 5 của Tiểu đoàn 8 tiêu diệt gọn. Hôm sau (ngày 5/3/1971), chúng lại dùng một đoàn xe 30 chiếc có lính dù áp tải chở đại pháo và lương thực lên tăng cường cho Lữ đoàn 2 dù, không cho địch chạy thoát, từ trận địa chốt 311 được sự chi viện của hỏa lực tiểu đoàn cán bộ chiến sĩ Đại đội 7 tiến đánh chặn đầu đoàn xe địch, Đại đội 5 đánh bên sườn và khóa đuôi chưa đầy 40 phút nổ súng, Tiểu đoàn 8 đã diệt gọn đoàn xe và Đại đội 4, Tiểu đoàn 11, Lữ đoàn 2 dù địch, bắt sống 2 tên, phá 2 khẩu pháo 105mm của địch[3].

Ngày 9/3/1971, quân địch tập trung bắn 2000 quả đạn pháo vào khu vực chốt 311, đồng thời dùng trực thăng vũ trang tiếp tục bắn phá. Cán bộ chiến sĩ Đại đội 7 dưới sự chỉ huy của Đại đội trưởng Nguyễn Tiến Lễ và Chính trị viên Nguyễn Văn Tấn, kiên cường chịu đựng bom đạn địch, bám trụ trận địa chốt, vừa đánh trả máy bay địch, vừa củng cố lại hầm hào bị sụt lở, đẩy lùi mọi đợt tiến công của bộ binh địch, với sự vượt trội về đạn pháo chúng hy vọng lực lượng ta trên chốt 311 sẽ mất sức chiến đấu. Nhưng sáng ngày 10/3/1971, chúng vừa cho xe ủi đất có xe tăng, xe bọc thép hộ tống tới chân điểm cao 311 để ủi những chiếc xe bị cháy, dọn đường tiến lên thì lập tức bị các trận địa cối và DKZ của Tiểu đoàn 8 từ đỉnh chốt bắn xuống mãnh liệt tiêu diệt đoàn xe địch. Liên tục các ngày từ 11 đến 13/3/1971, địch lại sử dụng bộ binh có xe tăng hỗ trợ đánh lên chốt 311. Cán bộ, chiến sĩ Đại đội 7 được sự chi viện của Đại đội 5, 6 bảo vệ bên sườn phía Tây Nam và Đông Bắc đã anh dũng chiến đấu đẩy lùi 7 đợt tiến công của xe tăng và bộ binh địch, phối hợp cùng đơn vị bạn diệt thêm 140 tên, phá hủy 3 xe tăng, 2 máy bay trực thăng và 2 tên Mỹ trong đó có tên cố vấn của Thiết đoàn 11. Sau trận đánh đại đội đã thu gọn toàn bộ vũ khí, trang bị, tài liệu của chúng[4].

Trận đánh ngày 20 và 21/3/1971, trước nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn, cánh quân trung tâm của địch bắt đầu tháo chạy khỏi Bản Đông, xe pháo, bộ binh địch ùn ùn kéo nhau chạy theo đường số 9 về phía Lao Bảo, nhưng khi chúng tới chốt 311 đã bị cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn 8 đánh chặn lại, địch dùng sức mạnh của số đông vượt qua chốt nhưng đã bị cán bộ, chiến sĩ Đại đội 7, Tiểu đoàn 8 đã anh dũng chiến đấu tiêu diệt phần lớn quân địch, góp phần vào chiến công vẻ vang của tiểu đoàn diệt tại trận 98 tên, bắn cháy và thu 17 xe tăng, xe bọc thép địch ngay tại chân điểm chốt 311, lực lượng địch còn lại hốt hoảng luồn rừng vượt sang bờ nam sông Sê Pôn về Khe Sanh[5].

Cán bộ, chiến sĩ  Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 102 chiến đấu kiên cường trong Chiến dịch  Đường 9 - Nam Lào năm 1971.

Ngày 23/3/1971, Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào kết thúc thắng lợi. Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 8 liên tục chiến đấu dưới hỏa lực ác liệt của địch, đánh lui 20 trận phản kích của Lữ đoàn 2 dù, giữ vững điểm cao 311, tiêu diệt 450 tên địch, bắt sống 2 tên, bắn cháy 65 xe tăng, xe bọc thép, bắn rơi 3 máy bay của địch[6].

Với những chiến công và thành tích đạt được trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Đại đội 7, Tiểu đoàn 8 (tiền thân là Đại đội 273, Tiểu đoàn 54) thuộc Trung đoàn 102 được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng Ba, 2 Huân chương Chiến công hạng Nhất. Ngày 20/9/1971, Đại đội 7, Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 102, Sư đoàn 308 được tuyên dương danh hiệu “Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân”.

Hình ảnh, hiện tiêu biểu về Đại đội 7, Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 102

Hiện vật gắn liền với chiến công của Đại đội 7 anh hùng được trưng bày tại chủ đề: Nơi hội tụ các đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Sư đoàn 308.

Tại Bảo tàng Binh đoàn quyết thắng đang lưu giữ và trưng bày một số hình ảnh, kỷ vật như Ống Nhòm, Địa Bàn của đồng chí nguyễn Minh Tước, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 8 sử dụng để quan sát, trinh sát điểm cao 311 nắm chắc tình hình, chỉ huy Đại đội 7 chốt giữ điểm cao 311 (Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971) và khẩu súng B-40 của đồng chí Hà Quang Sen cán bộ Trung đội 1, Đại đội 7, Tiểu đoàn 8 sử dụng chiến đấu trong trận đánh địch tập kích ở Đồi Bằng, Làng Cát, Quảng Trị (Chiến dịch Khe Sanh năm 1968).

Ống Nhòm của đồng chí nguyễn Minh Tước, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 8 sử dụng quan sát địch, chỉ huy Đại đội 7 chốt giữ điểm cao 311 (Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971)

Địa Bàn của đồng chí nguyễn Minh Tước, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 8 sử dụng để trinh sát trận địa, chuẩn bị chiến đấu tại điểm cao 311 (Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971)

Khẩu súng B.40 của đồng chí Hà Quang Sen cán bộ Trung đội 1, Đại đội 7, Tiểu đoàn 8 sử dụng chiến đấu trong trận đánh địch tập kích ở Đồi Bằng, Làng Cát, Quảng Trị (Chiến dịch Khe Sanh năm 1968)

Những kỷ vật quý giá đó gắn liền với những chiến công của cán bộ, chiến sĩ Đại đội 7, Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 102, Sư đoàn 308 để tuyên truyền, giáo dục cho các thế hệ cán bộ chiến sĩ Quân đoàn về truyền thống “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” của Trung đoàn Thủ đô anh hùng và truyền thống “Tiên phong, anh dũng, đoàn kết, kỷ luật, thần tốc, quyết chiến, quyết thắng” của Đại đoàn Quân tiên phong anh hùng.

Ngày nay, trong giai đoạn cách mạng mới, tiếp tục đi theo con đường mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn, kiên trì đường lối đổi mới, hội nhập và phát triển tự hào với truyền thống vẻ vang và thành tích đã giành được trong 77 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Đại đội 7 anh hùng luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, quyết tâm rèn luyện, nâng cao trình độ, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức của người chiến sĩ cách mạng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân hoàn thành xuất sắc hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 


[1] Đơn vị anh hùng và anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Sư đoàn 308, H.1994, Xuất bản nội bộ, tr.10.

[2] Lịch sử Trung đoàn Thủ đô 1947-2001, Nxb QĐND, tr.130

[3] Lịch sử Trung đoàn Thủ đô 1947-2001, Nxb QĐND, tr.200

[4] Lịch sử Trung đoàn Thủ đô 1947-2001, Nxb QĐND, tr.202

[5] Lịch sử Trung đoàn Thủ đô 1947-2001, Nxb QĐND, tr.204

[6] Lịch sử Sư đoàn 308 Quân tiên phong 1949-2019, Nxb QĐND, tr.256

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn