Cựu chiến binh

ĐẠI ĐỘI ĐẶC CÔNG V20 VÀ KÝ ỨC CỦA TÔI

Đà Nẵng05/05/2026Lê Thị Kim Thức (Đoàn viên giáo viên trường THCS Nguyễn Khuyến, Tam Anh)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

ĐẠI ĐỘI ĐẶC CÔNG V20 VÀ KÝ ỨC CỦA TÔI

Giữa mùa thu năm 1966, tôi tốt nghiệp khóa y tá đợt 2 và được điều động về làm y tá của Đại đội Đặc công V20, Huyện đội Nam Tam Kỳ. Ban chỉ huy đại đội lúc này có anh Lê Thanh Tiến quê Kỳ Khương làm Đại đội trưởng, anh Trần Trung Phương người Kỳ Sanh làm Chính trị viên. Nghe nói khi thành lập có anh Trình, làm đại đội phó, nhưng tôi chưa được gặp anh, vì anh đã được huyện điều đi nơi khác rồi.

Đại đội được biên chế 2 trung đội, các anh Nguyễn Sa quê Kỳ Khương và anh Nguyễn Văn Chương quê xã Kỳ Sanh làm trung đội trưởng. Đại đội bộ có anh Bùi Huy Châu người xã Kỳ Chánh làm trợ lý chính trị, anh Nguyễn Văn Thương, người Kỳ Khương làm quản lý, đồng chí Trần Thanh Huệ làm liên lạc, tôi y tá, Đặng Văn Hạnh cứu thương, Phước quân khí và bộ phận nuôi quân.

Tôi nhớ đơn vị có quân số rất ít, đang đứng chân tại suối Đồng Trận; thời điểm này mà đứng ở đây là gần địch lắm, vì bọn biệt kích Mỹ rất hay lùng sục vùng này nên triệt để thực hiện khẩu hiệu “Đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”. Khi tôi về, được nghe anh em kể lại là sau khi thành lập, đại đội đã độc lập tác chiến và phối hợp với Tiểu đoàn Đặc công 409 của Quân khu 5, đánh một số trận như: tập kích quân Mỹ đóng tại đồn Ông Sầm, Đồi Đá, Đồi Đình xã Kỳ Khương diệt nhiều tên, phá hủy một số phương tiện chiến tranh. Đại đội lúc này chủ yếu hoạt động độc lập từng trung đội; trung đội anh Chương ở Kỳ Sanh, đã đánh một trận diệt nhiều tên Mỹ lết gần Gò Thời thuộc xóm 3, thôn 8. Trung đội của anh Nguyễn Sa hoạt động ở Kỳ Khương, Lý Tín tập kích quân Mỹ đóng ở Dương Bản Lầu xã Kỳ Sanh lúc 12 giờ trưa diệt một số tên. Gần cuối năm 1966, đơn vị đánh thiệt hại nặng trung đội Mỹ tại điểm chốt Cầy Gia, thôn Khương Thọ; trận này anh Nguyễn Hữu Phục bị thương nặng, anh Thủy người Kỳ Sanh chạy lạc hôm sau bị địch bắt. Sau đó đại đội vào Kỳ Sanh hoạt động, rằm tháng mười âm lịch, phần lớn anh em xuống xóm 1, thôn 8, được nhân dân cho ăn “cúng lúa mới” no nê; bà con còn gói xôi, bánh xèo gửi mang về cho anh em ở nhà. Khi lên đến gần trường Cây Da thì bị Mỹ lết ở đó phát hiện nổ súng, ta đánh trả quyết liệt; xôi, bánh bà con biếu mang về cho anh em ở nhà đều mất sạch. Trận này anh Hà Tùng Khánh mới về đơn vị được 3 ngày, bị thương gãy tay, điều trị ở bệnh xá, sau đó cho đi Bắc an dưỡng.

Đầu năm 1967, đại đội chuyển lên đứng chân tại suối Đá Lang thôn 1, xã Kỳ Thạnh và tổ chức ăn Tết ở đó. Sau Tết, anh Tiến, Đại đội trưởng và một bộ phận cán bộ đi chuẩn bị sân bay trực thăng dã chiến tại thôn 4 xã Kỳ Hòa; anh Sa chỉ huy trung đội ra hoạt ở Kỳ Khương. Thời gian này quân Mỹ thường xuyên sử dụng xe tăng M118, xe bọc thép M113 thiết lập hành lang tuần tra bảo vệ đồn Ông Sầm. Để đánh được xe tăng của Mỹ, các anh cải tiến đầu đạn pháo lép thành mìn, dùng kíp điện, gây nổ bằng phương pháp đè nổ khi chập mạch điên. Một hôm các anh mang mìn đi cài đặt, do bất cẩn, bị chập điện, mìn nổ làm anh Nguyễn Khóa, Trung đội phó hy sinh tại chỗ, anh Sa, Trung đội trưởng bị thương nặng ở đầu, đưa lên điều trị ở CK130 được mấy hôm thì anh hy sinh.

Anh Tiến chỉ huy một bộ phận đi chuẩn bị đánh sân bay dã chiến Kỳ Hòa khá thuận lợi; hôm đại đội hành quân chiến đấu, ra đến xóm Lẫm, thôn 1 xã Kỳ Thạnh thì chạm quân Mỹ có xe tăng càn lên Kỳ Thạnh nên đành quay lại. Do quân Mỹ thực hiện cuộc càn liên kết mùa khô 1967, chúng ở lâu tại Kỳ Thạnh nên quân khu giao cho Tiểu đoàn Đặc công 409 đánh sân bay dã chiến tại Kỳ Hoà. Anh em chúng tôi lại một lần tiếc nuối.

Đóng quân ở suối Đá Lang, có một sự kiện rất thương tâm đó là đồng chí Đặng Văn Hạnh, cứu thương, một hôm đi công tác bị bọn Mỹ lết bắn chết tại ngã ba rẽ vào đơn vị, mấy ngày sau chúng mới rút quân. Tôi cùng anh Phương, Chính trị viên và một số anh em bám ra, chỉ còn một cách là lấy đá xây chung quanh rồi đắp đất lên thành mộ. Tuy nhiên sau 1975, anh em đến tìm thì không thấy mộ đồng chí Hạnh đâu cả, đành gạt nước mắt ra về, thật đau lòng. Mỹ lết, biệt kích liên tục lùng sục, chà đi xác lại khu vực núi Diêng Bông ra đến thôn 1 xã Kỳ Thạnh, do vậy đơn vị phải chuyển ra đóng quân trong nhà dân ở xóm bà Hiến, thôn 2 xã Kỳ Thạnh. Đến giữa năm 1967 chuyển lên đóng quân tại thôn Thuận Yên xã Kỳ Yên. Cán bộ đại đội cũng có sự biến động, anh Lê Thanh Tiến, Đại đội trưởng đi học, anh Nguyễn Văn Thành người Điện Bàn về thay anh Tiến. Anh Nguyễn Toan người Kỳ Trà ở V14 về làm Đại đội phó, anh Sang người Phú Yên về làm Chính trị viên phó, anh Bùi Huy Châu cũng được điều về Đại đội 706.

Khi cơ động về Kỳ Yên, anh Nguyễn Toan, Đại đội phó phụ trách một bộ phận cán bộ đi chuẩn bị đồn Cửa Lỡ xã Kỳ Hoà và hoàn thành tốt công tác chuẩn bị chiến trường. Khoảng tháng 6 năm 1967, đại đội thực hành tập kích trung đội Mỹ chốt giữ mục tiêu đồn Cửa Lỡ. Đây là chốt điểm nằm sâu trong lòng hậu phương địch, đường hành quân rất xa, từ Kỳ Yên xuống Kỳ Thạnh, Kỳ Khương, vượt sông Chợ xuống ấp 7, xã Kỳ Hòa, nằm hầm bí mật một ngày. Đêm hôm sau đơn vị mới vượt sông Trường Giang thực hành trận đánh, nhưng chỉ có một mũi tiếp cận vào được bên trong, nổ súng tấn công diệt được một bộ phận quân Mỹ. Địch phản ứng quyết liệt, ta không diệt gọn được mục tiêu theo phương án, chỉ có đồng chí Phổ bị thương nặng.

Qua một ngày nằm hầm bí mật tại thôn 7, xã Kỳ Hòa, tối hôm sau chúng tôi cơ động qua thôn 8, xã Kỳ Hòa, rồi men theo dọc bờ biển ra Kỳ Trung, đến thôn Tỉnh Thủy xã Kỳ Anh thì trời sáng, phải tạm trú trong nhà dân. Sáng hôm đó quân biệt lập ở Kỳ Trung ra càn quét, chúng tôi lại xuống hầm bí mật, đến 12 giờ trưa chúng rút; ta trở lại sinh hoạt bình thường. Đêm xuống, đơn vị vượt sông Trường Giang lên thôn Thạch Tân, vượt sông Bàn Thạch lên căn cứ của huyện Bắc Tam Kỳ ở xã Kỳ Thịnh, rồi về doanh trại ở thôn Thuận Yên xã Kỳ Yên.

Về hậu cứ, đại đội tập trung củng cố, huấn luyện và cùng du kích Kỳ Yên chống địch càn quét bảo vệ vùng giải phóng; đồng thời triển khai từng bộ phận xuống Kỳ Khương, Lý Tín, Kỳ Sanh hoạt động hỗ trợ địa phương xây dựng cơ sở diệt ác phá kèm. Đặc biệt, thời gian này, Ban chỉ huy đại đội tiến hành trinh sát, xây dựng hoàn chỉnh phương án tấn công tiêu diệt đồn Đức Phú. Đáng tiếc, một bộ phận cán bộ đại đội, trung đội đi kiểm tra lần cuối, không may anh Toan, Đại đội phó vướng mìn hy sinh, yếu tố bí mật không còn, nên trận đánh phải dừng lại.

Cuối năm 1967, anh Thành, Đại đội trưởng được cấp trên điều động đi đơn vị khác; anh Sang, anh Phương vết thương tái phát phải đi Bắc điều trị. Anh Nguyễn Sa người Kỳ Hòa về làm Đại đội trưởng, anh Nguyễn Hữu Đức người Kỳ Xuân làm Chính trị viên, anh Đỗ Ngọc Nam, người Kỳ Xuân về làm Đại đội phó. Một hôm pháo hạm bắn lên Hòa Mỹ, xã Kỳ Yên anh Nam bị thương nặng, anh em đưa đi bệnh viện, nhưng đến dốc Ngành Ngạnh thì anh hy sinh, hiện nay chưa tìm được hài cốt. Cán bộ Trung đội trưởng có anh Nguyễn Văn Bình người Kỳ Xuân và anh Lê Phước Tường người Kỳ Chánh.

Chuẩn bị cho chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968, mật danh “T25”, Đại đội Đặc công V20 có nhiệm vụ phối hợp với Tiểu đoàn Đặc công 409, tấn công tiêu diệt đại đội Mỹ chốt giữ nam - bắc cầu An Tân, phục vụ cho Công binh Tỉnh đội Quảng Nam phá hủy cầu. Tháng 12 năm 1967, một bộ phận cán bộ chủ chốt của V20 và Tiểu đoàn 409 phối hợp đi trinh sát cầu An Tân. Phương án đánh tiêu diệt đại đội Mỹ chốt giữ cầu An Tân được các đơn vị thống nhất như sau: Đại đội Đặc công V20, đảm nhiệm hướng thứ yếu, diệt một trung đội Mỹ chốt giữ ở đầu cầu phía nam; Tiểu đoàn Đặc công 409, tấn công trên hướng chủ yếu, tiêu diệt lực lượng còn lại của đại đội Mỹ chốt giữ đầu cầu phía bắc. Tiểu đoàn pháo binh 78 lần đầu tiên chuẩn bị trận đia tại Nà Lợp trên dãy núi Răng Cưa, bắn phá sân bay và kho tàng ở căn cứ Chu Lai. Thời gian nổ súng hợp đồng theo qui định của chiến dịch.

Đại đội Đặc công V20 do anh Nguyễn Sa và anh Nguyễn Hữu Đức trực tiếp chỉ huy, cơ động xuống tạm dừng tại thôn 7 xã Kỳ Sanh, kiểm tra lại toàn bộ công tác chuẩn bị, hạ quyết tâm lần cuối rồi hành quân chiếm lĩnh trận địa. Tôi vinh dự được anh Đức, Chính trị viên đại đội trao lá cờ hòa bình (Cờ màu xanh có con chim bồ câu trắng), khi ta làm chủ trận địa thì treo lá cờ này ở vị trí cao nhất, phía nam cầu. Trận đánh diễn ra cơ bản đúng phương án, khá thuận lợi, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đơn vị chỉ bị thương nhẹ vài đồng chí. Tuy nhiên, lần đầu tiên lực lượng pháo binh Quân khu 5 tấn công căn cứ Chu Lai, do hiệp đồng thời gian nổ súng không rõ giữa pháo binh với đặc công, nên mãi đến 3 giờ 30 phút mới nổ súng.

Đại đội Đặc công V20 hoàn thành nhiệm vụ diệt trung đội Mỹ phía nam cầu An Tân, thu dọn chiến trường, cơ động về thôn 7 xã Kỳ Sanh, ở lại ăn Tết Mậu Thân với nhân dân và cùng du kích xã hoạt động tuyên truyền chiến thắng ở thôn 1, thôn 2. Ở với bà con được mấy hôm thì có lệnh về đội hình Liên đội Đặc công 16 củatỉnh. Do Mỹ đổ quân ngăn chặn ở thôn 8, nên đơn vị phải cơ động lên chân núi Hòn Rơm, rồi xuống Tú Mỹ để về lại Kỳ Yên. Bộ phận sản xuất của đại đội do anh Bổn phụ trách vẫn ở lại Kỳ Yên, còn toàn bộ đơn vị hành quân ra đứng chân tại thôn Ngọc Tú, xã Kỳ Long, huyện Bắc Tam Kỳ.

Tháng 02 năm 1968, Đại đội Đặc công V20 chính thức đứng trong đội hình Liên đội Đặc công 16 của tỉnh; anh Lê Thanh Tiến nguyên là Đại đội trưởng V20 đi học về, làm Chính trị viên liên đội. Ban chỉ huy Đại đội V20 ngoài các anh Nguyễn Sa, Đại đội trưởng, Nguyễn Hữu Đức Chính trị viên; trên bổ nhiệm anh Nguyễn Văn Bình người Kỳ Xuân và anh Lê Phước Tường người Kỳ Chánh làm Đại đội phó; anh Phạm Đình Chánh người Kỳ Khương và anh Nguyễn Tâm người Kỳ Thịnh làm Trung đội trưởng.

Về đội hình Liên đội Đặc công 16 được một thời gian, đại đội nhận nhiệm vụ đánh tiêu diệt điểm chốt Gác Ghi, thị xã Tam Kỳ. Thực hiện đúng kế hoạch, đầu tháng 3 năm 1968, anh Nguyễn Sa và anh Nguyễn Hữu Đức chỉ huy đại đội tập kích tiêu diệt gọn đại đội cảnh sát dã chiến tại điểm chốt Gác Ghi. Trận này đồng chí Nguyễn Văn Khi và Lương Văn Hưởng người Kỳ Khương bắn 5, 6 quả B40, phá hủy nhiều lô cốt, ụ chiến đấu và nhà tăng của địch; đồng chí Nguyễn Tâm, mũi trưởng hy sinh tại chỗ;đồng chí Lê Phước Tường, Đại đội phó và đồng chí Bùi Văn Kim quê Kỳ Khương bị thương nặng đưa về CK150 điều trị thì hy sinh. Hoàn thành nhiệm vụ đánh Gác Ghi, đại đội cơ động về đứng chân tại xã Phước Lộc, huyện Tiên Phước, anh Trần Văn Xuân người Kỳ Khương được bổ nhiệm làm Trung đội trưởng thay cho Nguyễn Tâm đã hy sinh. Tiếp theo đơn vị nhận nhiệm vụ tập kích diệt gọn đại đội biệt kích vừa đến dừng chân ở Dương Bướm xã Phước Kỳ- Tiên Phước. Trận này ta thu được rất nhiều vũ khí và quân trang quân dụng

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn