Đại đội Ký Con và chiến công bắt sống hai tàu chiến Pháp
Vào những ngày cuối tháng 8 năm 1945, không khí cách mạng sục sôi trên khắp các thành phố cảng Bắc Bộ. Ngày 20/8, tàu Frézouls của Hải quân Pháp chạy đến đảo Long Môn thuộc Trung Quốc để nhận hàng tiếp tế bằng dù từ máy bay. Hai ngày sau, tàu quay trở lại Vịnh Hạ Long, mang theo vũ khí và lương thực, chuẩn bị cho âm mưu quay lại xâm lược đất nước ta. Khi đó, quân giải phóng Chiến khu Đông Triều đã nhanh chóng tỏa về Hải Phòng, Hải Dương, Quảng Yên và Hòn Gai, các trung đội được phát triển thành đại đội. Một trong những lực lượng nòng cốt là Tiểu đội Ký Con, thành lập ngày 1/7/1945 sau chiến thắng Chợ Bí, do Lê Phú làm Tiểu đội trưởng, từng bắt sống cả đại đội địch và thu về hơn 100 khẩu súng. Trung đội Ký Con trở thành đơn vị chủ lực trong trận chiếm tỉnh lỵ Quảng Yên ngày 20/7/1945 và tham gia giành chính quyền ở Hải Phòng ngày 23/8/1945. Cuối tháng 8/1945, trung đội phát triển thành Đại đội Ký Con, có nhiệm vụ bảo vệ chính quyền cách mạng ở Hải Phòng và khu mỏ Hòn Gai.
Sáng ngày 7/9/1945, tàu tuần tiễu Pháp Crayssac tiến sát vào bến Hòn Gai. Đại đội trưởng Lê Phú lập tức thông báo cho toàn đơn vị về tông tích, tính năng của tàu địch và âm mưu xâm lược của thực dân Pháp, đồng thời ra lệnh xuất kích. Tại bến nhà Đoan, Hải quân Hòn Gai, hai tàu của ta đã sẵn sàng: tàu Bạch Đằng, loại tàu kéo vỏ thép, chạy bằng hơi nước, có khẩu đại liên Hotchkis và bao cát xung quanh, do thuyền trưởng Đạm chỉ huy; và tàu Giao Chỉ, vỏ gỗ hai tầng, vốn dùng chuyên chở hành khách, nay được trang bị sẵn sàng cho chiến đấu. Hai tiểu đội của Trung đội I, do Hoàng Vinh chỉ huy, xuống tàu Bạch Đằng và Giao Chỉ, bố trí quân xung quanh, tất cả đều trong tư thế sẵn sàng chiến đấu.
Khi tàu Crayssac lướt vào vịnh, tàu Bạch Đằng và Giao Chỉ bám sát hai bên, tạo thế bao vây. Lê Phú cùng đồng chí Bùi Sinh và bốn chiến sĩ phục trên bờ sát mỏm núi Bài Thơ lao nhanh bằng canô chở khách, áp sát tàu Crayssac. Thủy thủ Pháp cố đẩy canô ra, nhưng các chiến sĩ Ký Con nhanh nhẹn nhảy lên boong, súng trong tay sẵn sàng nhả đạn. Lê Phú hô to bằng tiếng Pháp: “Giơ tay lên!” và tất cả thủy thủ Pháp, bất ngờ trước khí thế áp đảo, giơ tay đầu hàng. Hai tàu Bạch Đằng và Giao Chỉ phối hợp khéo léo, canô rút ra, tàu Bạch Đằng áp sát boong tàu, các tiểu đội nhanh chóng tước súng, dao găm, lựu đạn của địch. Tên thuyền trưởng và sĩ quan Mỹ ngoan cố không chịu rời tàu, nhưng chỉ sau một phát súng thị uy, họ mới chịu sang tàu Bạch Đằng. Những thủy thủ Việt bị nhốt dưới hầm cũng được mở ra, tất cả đều phấn khởi xin gia nhập lực lượng cách mạng. Trên tàu còn có một phụ nữ Việt đang khâu dở lá cờ Mỹ, cũng được cho trở về quê.
Sau khi chiếm được tàu Crayssac, Bùi Sinh và tiểu đội được giao nhiệm vụ quản lý tàu. Đồng chí Lê Hai lục soát các ngăn tủ, tìm thấy công văn, chỉ thị mật của Chính phủ De Gaulle về kế hoạch cai trị Việt Nam và lá cờ tam tài Pháp. Mọi tài liệu được chuyển về Tư lệnh ủy ban quân sự liên tỉnh miền duyên hải, Nguyễn Bình, người đã trực tiếp ra Hòn Gai, gỡ chữ Crayssac và gắn hai chữ Ký Con bằng đồng trên mũi và đuôi tàu, ghi công cán bộ, chiến sĩ Đại đội Ký Con.
Chỉ vài ngày sau, vào khoảng 13 giờ ngày 11/9/1945, tàu L’Audacieux tiến vào vùng biển Hòn Gai. Khi thấy tàu Crayssac treo cờ đỏ sao vàng, địch hoảng hốt bỏ chạy, đồng thời báo cho đoàn tàu khác: “Chúng tôi đã thấy Crayssac ở Hòn Gai, treo cờ đỏ sao vàng”. Ngay lập tức, Bùi Sinh và tiểu đội mở máy tàu Ký Con, bám sát đuổi theo. Tàu L’Audacieux tháo hết vũ khí xuống biển để đánh đắm, nhưng khi tàu Ký Con áp sát, các chiến sĩ nhảy sang boong tàu, địch hoảng hốt giơ tay xin hàng, lá cờ tam tài bị hạ xuống, cờ đỏ sao vàng tung bay. Đây là chiến công thứ hai của Đại đội Ký Con trên biển Hạ Long.
Trong vài ngày, nửa đoàn tàu Pháp ở miền duyên hải Bắc Bộ bị lực lượng vũ trang cách mạng bắt gọn. Cán bộ, chiến sĩ Đại đội Ký Con dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, đã bắt sống hai tàu chiến Pháp mà không hề tổn thất, lập nên chiến công đầu tiên của quân đội Việt Nam sau Quốc khánh 2/9/1945, khẳng định sức mạnh và ý chí bảo vệ Tổ quốc ngay từ những ngày đầu cách mạng.



