Đại đội Lam Sơn, Trung đoàn 310
Đại đội Lam Sơn, Trung đoàn 310
Ngày 27/3/1948, thực hiện chỉ thị của Khu bộ trưởng Khu 7 về việc xây dựng trung đoàn, toàn Chi đội 10 phát triển thành Trung đoàn 310. Trung đoàn 310 biên chế cụ thể gồm:
- Đại đội A phát triển lên Tiểu đoàn Lê Lợi gồm 3 đại đội khinh binh: Đại đội Thái Nguyên (Trung đội 1); Đại đội Đống Đa (Trung đội 2); Đại đội Chi Lăng (Trung đội 3).
- Đại đội B phát triển lên Tiểu đoàn Quốc Tuấn gồm 3 đại đội khinh binh: Đại đội Lạc An (Trung đội 4); Đại đội Bắc Sơn (Trung đội 5); Đại đội La Nha (Trung đội 6).
- Đại đội C phát triển lên Tiểu đoàn Quang Trung gồm 3 đại đội khinh binh: Đại đội Đô Lương (Trung đội 7); Đại đội Lam Sơn (Trung đội 8); Đại đội Bàu Cá (Trung đội 9 thiếu).
Từ trong thực tiễn của cuộc chiến tranh vệ quốc, từ những tổ chức tiền thân là Trung đội 5, Đại đội B (Biên Hòa) và Trung đội 8, Đại đội C (Long Thành), Đại đội Lam Sơn được hình thành và lấy ngày 27/3/1948 là ngày thành lập.
Đại đội Lam Sơn gánh trọng trách nặng nề vì đứng chân hoạt động ở địa bàn chiến lược: khu vực Biên Hòa, giáp ranh Sài Gòn, Vĩnh Cửu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng: là cửa ngõ của Chiến khu Đ; có các trục đường giao thông chiến lược quan trọng nối liền ra các tỉnh miền Trung và tỏa xuống miền Tây Nam Bộ như: quốc lộ 1, lộ 15, đường sắt, đường sông Đồng Nai, đường sông Lòng Tàu, đường lộ 24 áp sát vành đai căn cứ Chiến khu Đ...
Từ những lực lượng nòng cốt ban đầu là các thanh niên yêu nước ở các làng xã; sinh viên học sinh ở các trường học, công nhân cao su, thợ máy, các ngành nghề thủ công; đồng bào các dân tộc, một số binh lính, sĩ quan của quân đội thuộc địa Pháp và quân đội Nhật Bản..., càng về sau, lực lượng tăng cường, bổ sung cho Đại đội Lam Sơn càng được nâng cao hơn về chất lượng, kinh nghiệm tác chiến, kỹ thuật chiến đấu. Đó là những đơn vị: bộ đội Đô Lương, bộ đội Bắc Sơn, bộ đội La Nha, bộ đội địa phương Lê Hồng Phong, cán bộ huyện, dân quân du kích ở các xã... Và qua đó, thành phần tham gia đại đội phong phú: thanh niên nông dân, công nhân cao su, công nhân BIF, viên chức, học sinh, lớp nghèo thành thị, thanh niên dân tộc Chơ-ro, Châu Mạ, S’tiêng, Khơ me...
Nhiệm vụ của Đại đội Lam Sơn rất nặng nề và phạm vi hoạt động rất lớn, trên địa bàn chiến lược vô cùng quan trọng. 5 nhiệm vụ cơ bản có mối liên hệ mật thiết với nhau mà Đại đội Lam Sơn phải làm tròn là:
- Đánh đồn bót và đánh chống càn quét của địch bảo vệ căn cứ, các cơ quan đầu não kháng chiến ở địa phương, bảo vệ nhân dân và mùa màng;
- Tự lực cánh sinh, lấy vũ khí địch ở mọi nơi mọi lúc, trong mọi điều kiện tự trang bị cho mình;
- Đánh giao thông và bảo vệ các đoàn cán bộ Trung ương vào Chiến khu Đ và các đoàn vận tải lương thực, súng đạn của quân ta về đến nơi an toàn;
- Công tác vận động quần chúng yêu nước tham gia kháng chiến và vận động binh lính địch bỏ hàng ngũ đi theo cách mạng;
- Xây dựng lực lượng dân quân du kích tại chỗ và tham gia diệt ác phá kìm.
Qua quá trình hoạt động và chiến đấu trực diện với địch, cán bộ, chiến sĩ Đại đội từng bước trưởng thành vững vàng về chính trị, tinh thần, được thể hiện qua các trận đánh đồn bót, đánh phục kích, đánh chống càn... Thực hiện tốt công tác dân vận, địch vận đã hỗ trợ đắc lực vào các kết quả hoạt động cũng như thành tích trong chiến đấu của Đại đội. Về nhiệm vụ tác chiến, đại đội thực hiện tốt 2 nhiệm vụ cơ bản: phối hợp (phối hợp giữa bộ đội cấp trên, bộ đội liên huyện, bộ đội trong huyện) và độc lập chiến đấu.
Một trong những trận đánh tiêu biểu của Đại đội Lam Sơn là vào ngày 10/10/1948, Đại đội Lam Sơn cùng một số đơn vị bạn cùng tiểu đoàn đã đánh bại trận càn của hàng ngàn quân Pháp từ Biên Hòa xuống sở cao su Hàm Rồng (Tân Hưng - Long Bình Tân hiện nay), cuộc chiến diễn ra ác liệt từ 7 giờ đến 11 giờ. Tiếp đó, trong ngày 23 và 25/10/1948, đơn vị tiếp tục đánh bại hai trận càn với lực lượng cỡ đại đội vào căn cứ Bình Đa. Đến cuối tháng 10-1948, Đại đội Lam Sơn và các đơn vị bạn trong tiểu đoàn do đồng chí Lương Văn Nho trực tiếp chỉ huy phục kích đánh đoàn xe 7 chiếc kéo be có lính lê dương địch ở chi khu Trảng Bom hộ tống. Kết quả ta làm chủ tình hình, phá 7 xe và thu được nhiều vũ khí, địch bị thiệt hại nặng.
Ngày 23/6/1949, Đại đội Lam Sơn tham gia trận phục kích của Tiểu đoàn trên đường số 1 cách nội ô thị xã Biên Hòa khoảng 6km (gần bệnh viện Tâm thần) do đồng chí Đinh Quang Ân chỉ huy.
Trận đánh diễn ra quyết liệt, ta tiêu diệt khoảng 50 tên địch. Tính riêng trong 6 tháng đầu năm 1949, Đại đội chuyên môn đánh đường sắt của Biên Hòa do đồng chí Hoàng Phùng Đức chỉ huy đánh 15 trận làm hỏng 13 đầu máy xe lửa hiệu Pacific trên tuyến đường sắt Biên Hòa - Trảng Bom; có trận diệt 150 tên lính lê dương hộ tống. Các đường giao thông lộ 1, 15, 16, 24 bị đào phá, đắp vật cản và cắt đứt liên tục. Lực lượng bảo vệ căn cứ Chiến khu Đ, Chiến khu Rừng Sác, Chiến khu Bình Đa đã bẻ gãy nhiều cuộc hành quân đánh phá của địch và đặc biệt đã phá vỡ tổ chức gián điệp của giặc ở Long Thành, Tỉnh đội Biên Hòa.
Ngày 11/2/1950, một bộ phận của Đại đội Lam Sơn do đồng chí Nguyễn Văn Phòng và đồng chí Châu phụ trách phối hợp với du kích Tam Hiệp đặt một trái FT tại cầu Ông Tửu (Tam Hiệp). Ta diệt gọn 1 xe chở tiểu đội sĩ quan Pháp thực tập đi thực tế. Cả xe và vũ khí trung liên, tiểu liên, súng trường đều bị nát, cháy vụn.
Ngày 30/3/1950, Đại đội Lam Sơn dự trận phối thuộc giao thông chiến trên đường Sài Gòn - Đà Lạt. Đại đội phụ trách khu vực C, có liên pháo 20 ly hỗ trợ. Sau trận đánh, quân ta phá hủy 29 xe của địch.
Ngày 22/4/1950, 2 trung đội của Đại đội Lam Sơn phục kích đánh địch trên đường xe lửa từ Sài Gòn đi Phan Thiết. Do có tình huống bất ngờ không đúng theo kế hoạch vì ta dự định đánh bọn đi tuần và làm đường nhưng lại đụng đoàn xe lửa quân sự Pháp từ Nha Trang về, đường sửa được đến đâu xe chạy đến đó, buộc ta phải đánh cả bọn tuần tiễu sửa đường và đoàn xe lửa. Trận chiến diễn ra ác liệt tại đoạn đường sắt Trảng Bom. Sau 30 phút nổ súng dữ dội, quân ta xung phong làm chủ tình hình, diệt 20 tên địch trong đó có một quan hai Pháp (trung úy), phá hỏng một đầu máy xe lửa, đốt 2 wa-gong (toa xe). Chiến thắng trên đã gây tiếng vang lớn ở đô thành và những vùng bị tạm chiếm, kẻ địch vô cùng cay cú.
Giữa đêm 24/4/1950, tại căn cứ Bình Đa, Đại đội Lam Sơn được lệnh hành quân cấp tốc đến Đại An để đánh địch tấn công Chiến khu Đ bằng đường bộ và đường sông. Cùng với du kích tập trung Lê Hồng Phong huyện Vĩnh Cửu và du kích 2 xã Định Tân, Đại An, Đại đội phối hợp bố trí trận địa đón địch. Lúc 11 giờ, quân Pháp theo sông Đồng Nai bằng tàu đổ bộ vào mặt trận của ta. Tất cả đồng loạt nổ súng, tiêu diệt 12 tên địch, thu được một số vũ khí và đồ dùng quân sự, bảo vệ được căn cứ Huyện ủy và không để địch tấn công vào chiến khu.
Vào các ngày 11 và 23/6/1950, khoảng 100 quân Pháp và lính Pat- ti-dan tấn công vào Bình Đa. Trung đội 2 thuộc Đại đội Lam Sơn đón đánh địch ở An Hảo, Gò Cầy. Ở Xóm Hốc, một bộ phận do đồng chí Phùng phụ trách dùng chiến thuật bắn chim sẻ đánh địch. Địch chưa lọt được vào căn cứ phải rút lui. Ngày 27/6/1950, được bọn gián điệp dẫn đường, địch nghi binh đánh bọc hậu vào sau lưng bộ đội ta. Được du kích huyện do đồng chí Cân, đồng chí Thưởng phụ trách phối hợp, ta đánh trả địch quyết liệt, phá vỡ cuộc tập kích của địch.
Sáng 30/6/1950, Pháp tập trung cả thủy, lục, không quân mở cuộc càn lớn vào chiến khu Bình Đa. Các đơn vị bộ đội lặng lẽ rút ra ngoài, chỉ còn cán bộ đại đội, Trung đội 3, tổ trinh sát và du kích xã bám địa hình luồn lách tránh giao chiến với địch. Đến đêm, ta tổ chức đánh quấy rối nhiều cụm quân địch đóng dã ngoại. Vào 8 giờ ngày 1/7/1950, địch rút khỏi Bình Đa sau khi nổ súng giết hơn 80 trâu bò của nhân dân. Chiến khu Bình Đa vẫn giữ vững.
Ngày 30/8/1950, Đại đội Lam Sơn phối hợp với bộ đội huyện Vĩnh Cửu (bộ đội Lê Hồng Phong, phát triển từ du kích tập trung lên) tấn công bót Bến Gỗ do 1 trung đội thân binh Cao Đài đóng giữ, diệt và bắt sống 1 trung đội này.
Chiều 4/10/1950, Đại đội Lam Sơn gồm 3 trung đội do đồng chí Dương Ngọc Tân, Trần Bá Thạnh, Duy, Nhất phụ trách theo yêu cầu của địa phương phối hợp với du kích hai xã Tam An, Tam Phước phục kích cách bót Tam An khoảng 250 mét giết chết 7 tên lính, trong đó có tên Chà đen Utini, đồn trưởng Tam An, một tên sếp bót khét tiếng tàn bạo, ác ôn và lợi hại trong vùng. Ta bắt được 1 tù binh, thu 1 nòng súng Bren, 1 súng trường Mas và một số đạn. Riêng tên tù binh, khi giải về Bình Đa phía bộ đội làm công tác giáo dục tư tưởng rồi tha cho về. Trận diệt tên Utini tạo được tiếng vang lớn. Uy tín của Đại đội Lam Sơn càng được nâng cao. Đồng bào ven lộ 15 rất phấn khởi.
Ngày 17/11/1950, Đại đội Lam Sơn và Đại đội Lê Hồng Phong phục kích trên đoạn đường xe lửa Trảng Bom - Cây Gáo đánh bọn đi tuần đường sắt, diệt 4 tên địch, thu 1 nòng súng trung liên và một số quân trang, quân dụng.
Rút kinh nghiệm trận Trảng Bom - Cây Gáo, vài ngày sau đó, đơn vị của Đại đội Lam Sơn do các đồng chí Nguyễn Văn Phòng, Dương Minh Hên, Đào Tiến Thưởng chỉ huy thực hiện đánh tiêu diệt 1 tiểu đội lính Âu Phi ở ga Hố Nai đi Trảng Bom thu 1 trung liên, 2 tiểu liên mituyn và 4 súng trường mas, bắt 2 tù binh, diệt 4 tên, 4 tên khác bị thương được bộ đội tha tại chỗ, số còn lại bỏ chạy. Với 2 tên tù binh bắt được, ta đưa về căn cứ Phước Cang giáo dục tư tưởng sau đó thả cho về.
Đầu tháng 2/1951, sau khi giặc tấn công Chiến khu Đ, càn quét qua Đại An, Đại đội Lam Sơn độc lập phục kích giặc cách Trảng Bom khoảng 1km bắt được 7 xe chở hàng trong đoàn công-voa từ Sài Gòn đi Đà Lạt.
Trong suốt năm 1950 và những tháng đầu năm 1951, Đại đội Lam Sơn liên tục chủ động mở các cuộc phục kích, tấn công vào đồn bót địch, đánh phá phương tiện chiến tranh, phá hoại các tuyến đường giao thông huyết mạch của địch, bảo vệ an toàn vùng căn cứ.
Cũng bắt đầu từ những năm 1949-1950 trở đi, Đại đội Lam Sơn còn đảm đương nhiệm vụ rất nặng nề: vừa phải tổ chức lực lượng để cơ động tác chiến theo yêu cầu, đồng thời chủ động bảo vệ cán bộ và hàng hóa từ ngoài vào. Đây là vấn đề rất nan giải vì phải đi qua những tuyến đường huyết mạch trọng yếu là quốc lộ 1, quốc lộ 15 (quốc lộ 51 hiện nay), đường sắt. Để hoàn thành nhiệm vụ, các chiến sĩ Đại đội Lam Sơn mà đặc biệt là bộ phận trinh sát thường xuyên cắt rừng hướng dẫn đoàn đi an toàn. Trong suốt thời gian dài, Đại đội đã bảo vệ Đoàn vận tải D320 của Khu vận chuyển vũ khí, đưa đón cán bộ từ Trung ương vào qua khu vực Bình Đa lên Đại An về Chiến khu Đ, về Bà Rịa, xuống miền Tây an toàn. Đặc biệt, Đại đội Lam Sơn còn có công lớn trong việc bảo vệ chuyến vận chuyển binh công xưởng Nam Bộ từ Hắc Dịch về Chiến khu Đ an toàn. Từ tháng 5/1952, khi thành lập Tiểu đoàn vận tải 320, Đại đội Lam Sơn vẫn thường xuyên hỗ trợ cho hoạt động của đơn vị này trên cả một đoạn đường dài từ Bến Gỗ qua đường 15, qua đường xe lửa, đường số 1, về bến đò Đại An.
Một trận đánh tiêu biểu khác là trận đánh tiêu diệt bót Long Điềm diễn ra ngày 11/6/1951 do đồng chí Bùi Cát Vũ chỉ huy. Tham gia có các đồng chí Trần Bá Thạnh, Dương Minh Hên, Dương Ngọc Tân và 2 trung đội của Đại đội Lam Sơn cùng 2 tiểu đội của biệt động tỉnh Biên Hòa vào bố trí ém quân trước mặt tiền đồn Long Điềm. 11 giờ ngày 11/6, bọn địch trong đồn kéo nhau đi ăn cơm. Ta tổ chức 2 người cầm cờ đỏ sao vàng khi nghe phát lệnh “xung phong” thì xông vào và thổi tu huýt báo hiệu, 2 trung đội bộ đội thực hành tiến công. Tên lính gác còn lại trên gác chuông nhà thờ dùng súng trung liên bắn xối xả và bị bộ đội Lam Sơn hạ gục nhanh chóng. Tên đồn phó bị bộ đội ta bắn gục ngay bàn làm việc. Bọn lính bỏ chạy tán loạn. Trận đánh chỉ diễn ra trong vòng 10 phút, quân ta chiếm được bót và an toàn, không chiến sĩ nào bị thương vong. Trận đánh thắng lợi nhanh gọn làm cho bọn địch xung quanh đều hoang mang, phá được sức ép của địch với Chiến khu Bình Đa. Ta thu được 1 súng cối 81, 3 tiểu liên Xten, 3 trung liên FM và 43 súng trường Anh, bắt sống một số tên lính nhưng bộ đội phóng thích tại chỗ. Trận đánh đồn Long Điềm diễn ra chớp nhoáng, là kết quả của công tác dân vận, địch vận của các chiến sĩ Đại đội Lam Sơn, sự phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng bộ binh và biệt động.
Năm 1951, Đại đội Lam Sơn tham gia cùng lực lượng vũ trang tỉnh tiêu diệt yếu khu Trảng Bom. Hơn 16 giờ ngày 20/7/1951, hai xe cam - nhông của sở đá từ Bàu Cá về Trảng Bom chở 75 chiến sĩ biệt động và bộ đội tỉnh hóa trang công nhân sở đá. Khoảng 16 giờ 45, bọn lính trong chi khu ra sân banh đá bóng, cũng vừa lúc 2 xe cam -nhông chở công nhân dừng ngang cổng chi khu. Địch chưa kịp ra hỏi, Đội biệt động nhanh chóng bắn hạ tên lính gác cổng, xông vào dùng bộc phá đánh các tháp canh và lô cốt, chiếm xe bọc thép. Trong tiếng kèn đồng giục giã, Đại đội 60 thuộc Tiểu đoàn 303 tỉnh từ bìa rừng nhanh chóng vận động phối hợp cùng biệt động đánh chiếm các vị trí trong khu trung tâm. Cùng lúc, Đại đội Lam Sơn nổ súng đánh chiếm đồn lính cạnh sân banh. Bị bất ngờ, bọn địch trong chi khu và ngoài sân banh bỏ chạy tán loạn. Chỉ trong vòng 30 phút, quân ta làm chủ tình hình, tiêu diệt 50 tên lính Âu Phi, bắt sống 50 tên khác, thu 200 súng trong đó có 3 đại liên, 6 trung liên, 2 súng cối 81 ly và hàng chục tấn đạn dược, lương thực thực phẩm, hơn 100.000 đồng tiền Đông Dương và một số USD và phá hủy 2 xe bọc thép. Chiến lợi phẩm được chiến sĩ dùng xe chở về Chiến khu Đ an toàn. Đến 5 giờ ngày 21/7/1951, toàn bộ lực lượng tham gia trận đánh rút về căn cứ an toàn. Suốt mấy ngày đêm sau đó, ta hoàn toàn làm chủ yếu khu quân sự Trảng Bom. Trong trận đánh này, 2 chiến sĩ Đại đội Lam Sơn hy sinh, 2 đồng chí khác bị thương. Trận đánh yếu khu Trảng Bom thắng lợi đã gây tiếng vang lớn, cổ vũ mạnh tinh thần đấu tranh của quân dân Biên Hòa, phá được mũi đột kích của địch vào vùng độc lập ở Đại An, Định Tân. Các chiến sĩ Đại đội Lam Sơn đã đóng góp tích cực cho trận đánh giành được thắng lợi từ việc điều nghiên đến phối hợp tác chiến.
Tính đến cuối năm 1951, Đại đội Lam Sơn đánh tổng cộng 54 trận gồm 16 trận chống càn, 23 trận phục kích, 3 trận pháo kích, 4 trận đánh cứ điểm, 8 trận đánh giao thông .
Tình hình chiến đấu càng khó khăn hơn khi vào đêm 18/10/1952, một cơn bão lớn ập vào khu vực miền Đông làm nước sông Đồng Nai, Sông Bé dâng cao, tràn cả vào bờ. Chiến khu Đ và các xã ven sông Đồng Nai thuộc huyện Vĩnh Cửu chìm ngập trong bể nước.
Cùng thời điểm ấy, Đại đội bộ đội địa phương Lam Sơn đứng chân tại xã Đại An tổ chức đóng bè chuối, bè gỗ suốt mấy ngày đêm liên tục đưa đồng bào đến các khu vực an toàn tại đồi Bà Văn; tổ chức một bộ phận khẩn trương đào khoai mì, cắt lúa đang chìm dần trong dòng nước lũ để cứu đói cho dân; phối hợp tổ chức đột nhập đồn địch thu các loại vũ khí, gạo, thức ăn...
Lúc này lương thực vô cùng khan hiếm, dịch bệnh xảy ra nghiêm trọng. Thừa lúc ta gặp khó khăn, địch đẩy mạnh hoạt động càn quét vào vùng căn cứ; bao vây kinh tế; tuyên truyền chiêu dụ cán bộ kháng chiến... Đỉnh điểm là đầu năm 1953, Pháp tăng cường lực lượng đánh phá ác liệt vào vùng căn cứ cách mạng liên tục trong 52 ngày đêm. Ở Đại An, Lạc An, Định Tân, địch cho máy bay rà sát trút bom bắn phá để diệt lực lượng kháng chiến. Thời điểm này, địch đánh chiếm căn cứ Bình Đa.
Đại đội Lam Sơn một mặt giải quyết vấn đề lương thực, hậu cần, một mặt phải thường xuyên đánh trả các đợt càn quét của địch cả đường bộ lẫn đường sông.
Đầu năm 1953, địch mở trận càn lớn với quy mô cấp tiểu đoàn. Chúng chia thành nhiều mũi tấn công vào Đại An kết hợp với máy bay kêu gọi bộ đội đầu hàng. Trung đội 1 và Trung đội 3 thuộc Đại đội Lam Sơn đánh trả địch quyết liệt, bắn trúng 1 máy bay Jong-ke của địch đang bay dọc theo bờ sông để ném bom na- pan. Vấp phải sự đánh trả quyết liệt của bộ đội, bọn địch vô cùng hoang mang.
Đại đội Lam Sơn thường xuyên chặn đánh địch trên đường giao thông để lấy lương thực, vũ khí, quân nhu, tự trang bị cho mình và giải quyết phần nào vấn đề khó khăn lương thực cho nhân dân và các cơ quan trong vùng căn cứ. Qua đó, tinh thần đoàn kết, đùm bọc nhau giữa quân, dân, chính, Đảng ngày càng chặt chẽ, khăng khít. Trong một trận đánh đáng ghi nhớ ở đường số 1 do các đồng chí Lưu Công Hưng (bấy giờ là Đại đội trưởng Đại đội Lam Sơn), đồng chí Tân, Hên, Hồng... thực hiện, ta đánh đoàn xe của địch gồm 1 chiếc chở gạo và bột gạo, hai chiếc xe còn lại chở học viên sĩ quan địch, thu toàn bộ lương thực, một số vũ khí.
Tháng 12/1953, trận đánh bót Cẩm Vinh nằm dọc sông Đồng Nai do 2 trung đội bộ đội Lam Sơn được sự hỗ trợ của 1 trung đội biệt động tỉnh và 2 trung đội địa phương huyện Tân Uyên phục kích chặn địch ở Lợi Hòa và ngã ba Bình Ý, không cho chúng từ Cây Đào hay sân bay Biên Hòa tăng viện. Trận đánh diễn ra trong tình hình cực kỳ khó khăn do sau trận lụt kỷ lục, mỗi chiến sĩ ta trước khi vào trận đánh chỉ được 2 chén cháo.
Một đêm tháng 12/1953, các chiến sĩ Lam Sơn nổ súng tiến công địch ở hướng Tây Bắc. Phát hiện lực lượng ta, địch phản công quyết liệt, quân ta không xông vào được. Trung đội trưởng Tiếp tuy đã bị thương vẫn dồn sức ôm mìn FT xông thẳng vào đánh sập lô cốt chính rồi sau đó hy sinh cho đồng đội xông lên. Địch bị thu hút ở phía trước, đội biệt động tỉnh nhanh chóng tiến công vào phía sau bót. Ta tiêu diệt 1 trung đội giặc, thu toàn bộ vũ khí và rút lui; cùng thời điểm này, bộ đội Tân Uyên diệt bót Miễu Ngói (Lợi Hòa).
Do địch ruồng kích án ngữ, đường rút lui của quân ta từ Cẩm Vinh rất khó khăn. 5 giờ sáng hôm sau, trên đường rút về Đại An, đến sở cao su Ông Phủ (Bình Ý) thì đụng trung đội biệt kích Pa-ren đi ruồng kích. Lực lượng ta chia làm 3 mũi: Đội biệt động đánh vỗ mặt, bộ đội Lam Sơn đánh xuyên hông làm địch không kịp trở tay. Ta tiêu diệt hoàn toàn Trung đội biệt kích tiểu khu Biên Hòa, giải thoát 6 đồng chí của ta bị bọn chúng bắt được.
Trận đánh bót Cẩm Vinh thắng lợi và trung đội biệt kích ác ôn Pa-ren bị bộ đội ta tiêu diệt đã tạo tiếng vang lớn, làm bọn địch ở Vĩnh Cửu và thị xã Biên Hòa rúng động.
Trong tháng 4/1954, Đại đội Lam Sơn tiến công đánh địch ở bót Rạch Đông, Cây Đào, áp sát bót Bà Miêu (Bình Long - Lợi Hòa), đánh địch tuần ruồng, phục kích trên đường giao thông... đánh diệt 183 tên, bị thương 15 tên, kêu hàng 5 tên, bắn cháy 3 xe tăng thiết giáp, 1 xe GMC, 1 xe cam-nhông, 2 xe Jeep, thu nhiều vũ khí.
Cuối năm 1954, hầu hết cán bộ, chiến sĩ Đại đội Lam Sơn được tổ chức trong đội hình Trung đoàn Thủ Biên lên đường tập kết ra miền Bắc.
Đại đội Lam Sơn được hình thành, phát triển và tồn tại đến kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Kết quả hoạt động của Đại đội Lam Sơn đã góp phần không nhỏ vào thắng lợi chung của quân và dân miền Đông Nam Bộ, của quân và dân cả nước trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược.
Với những thành tích đã đạt được, tháng 8/2013, Đại Đội Lam Sơn được Nhà nước, Chính phủ phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân



