Đại đội Lê Hồng Phong
“Lúc này, hàng ngày các tàu khu trục, tàu tuần dương bao vây đảo và trên đầu là máy bay quần thảo, nhiệm vụ rất gian khổ và hiểm nguy nhưng ai cũng mong được ra Cồn Cỏ
Lúc này, hàng ngày các tàu khu trục, tàu tuần dương bao vây đảo và trên đầu là
máy bay quần thảo, nhiệm vụ rất gian khổ và hiểm nguy nhưng ai cũng mong được
ra Cồn Cỏ. Để “cạnh tranh” cùng các đơn vị khác, tôi là Trung đội phó, Bí thư chi bộ
đã họp tổ Đảng và trình bày sáng kiến cạo trọc đầu để tiết kiệm tối đa nước ngọt gội
đầu khi ra đảo. Với lòng quyết tâm và sáng kiến đó, trung đội “cạo trọc” của chúng
tôi đã được chỉ huy Đại đội Lê Hồng Phong lựa chọn ra giữ đảo Cồn Cỏ”, ông Trạc
nhớ lại.
Và đêm mùa hè tháng 7/1965, giữa muôn trùng sóng gió và sự bao vây của máy
bay, tàu chiến địch, Trung đội 3 vượt 17 hải lý và đặt chân lên đảo tiền tiêu. Gần
1.000 ngày giữ đảo, ông không thể nhớ hết có bao nhiêu trận bom, bao nhiêu cuộc
chiến. Dưới mưa bom bão đạn, hòn đảo có khi không còn một bóng cây, mặt đất bị
cày đi xới lại. Vừa chiến đấu, ông và đồng đội vừa đào công sự, hầm hào. Có những
thời điểm ác liệt, tiếp tế nhu yếu phẩm từ đất liền gián đoạn, họ phải sống cầm hơi,
chặt chuối rừng vắt nước uống. Người lính này hy sinh, người lính khác xông lên
thay thế. Nhiều đồng đội của ông đã ngã xuống và thân xác mãi nằm lại trên đảo.
“Sau này, tôi nghe lịch sử thống kê lại từ năm 1964-1968, có trên 1,3 vạn quả bom
và hàng vạn quả rốc két ném xuống Cồn Cỏ; 172 lần tàu chiến bắn trên 4 nghìn quả
đạn pháo lên đảo. Bình quân mỗi cán bộ, chiến sĩ hứng chịu gần 40 tấn bom đạn và
mỗi ha đất là 22,6 tấn. Còn lúc đó, chúng tôi chỉ biết ngày nào cũng bom rơi đạn nổ.
Cồn Cỏ vô cùng ác liệt, nhưng phía sau chúng tôi có cán bộ, nhân dân Vĩnh Linh
anh hùng, tình nghĩa sẵn sàng xung phong tiếp tế cho đảo. Tôi nhớ cụ Thục, tuổi
ngoài 60, là “chuđưathươngyên gia” theo dõi thời tiết. Mọi chuyến tiếp tế ra đảo hay binh vào đất liền nhờ cụ mà “thuận buồm xuôi gió”, Cồn Cỏ nhờ đó mà vững
vàng đến ngày chiến thắng!”, ông Trạc bồi hồi kể lại.
Mùa xuân năm 1968, ông được điều động vào đất liền, chỉ huy Đại đội Lê Hồng
Phong với mục tiêu chặn đứng đường tiếp viện của địch lên chiến trường Khe Sanh.
Đánh chặn tàu địch ở Cửa Việt, đánh sập cầu Bến Ngự, tiêu diệt đại đội thủy quân
lục chiến, bắt sống trung úy Mỹ…



