Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

ĐẠI ĐỘI TÔI TRONG 31 NGÀY ĐÊM GIỮ ĐỒI C1

Đoạn trích ghi lại cuộc chiến đấu gay go, ác liệt suốt 31 ngày đêm của đại đội "bộ binh pháo" (Trung đoàn 98, Đại đoàn 316) nhằm đánh chiếm và bảo vệ cứ điểm C1 tại Điện Biên Phủ. Tác giả đã tái hiện sống động những sáng kiến quân sự độc đáo trong hoàn cảnh thiếu thốn, tiêu biểu là cách "bắn ôm nòng" đầy mưu trí để tiêu diệt địch ở cự ly gần mà vẫn bảo vệ an toàn cho bộ binh ta. Qua những kỷ niệm về sự kiểm tra gắt gao của Trung đoàn trưởng Vũ Lăng hay việc sử dụng đạn pháo thu được từ dù địch,

Lai Châu04/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, với trận đánh mở màn tiêu diệt cứ điểm Him Lam, sau 4 ngày chiến đấu, quân ta đã kết thúc thắng lợi đợt 1.

Đợt tiến công thứ hai mới là đợt dài ngày, gay go, ác liệt nhất. Trong đợt tiến công này, Trung đoàn 98 thuộc Đại đoàn 316 trong đó có đại đội “bộ binh pháo” của chúng tôi, được giao nhiệm vụ đánh cứ điểm C1. Đồi C1 là cứ điểm trọng yếu cùng với A1 và C2 nằm gần nhau, địch tổ chức thành khu phòng ngự then chốt ở cửa ngõ phía đông khu trung tâm Mường Thanh.

Tham gia đánh cứ điểm này, đại đội “bộ binh pháo” tức là pháo nhỏ đi cùng bộ binh của chúng tôi có 1 trung đội với 3 khẩu pháo không giật ĐKZ 57 ly và 3 trung đội với 9 khẩu cối 81 ly. Với hỏa lực đó, 3 khẩu pháo không giật đã được điều đến phối thuộc với tiểu đoàn bộ binh chủ công. Còn 9 khẩu cối 81 ly được tổ chức thành trận địa hỏa lực bố trí trên hướng tiến công chủ yếu của trung đoàn, cách cứ điểm C1 khoảng 350 mét. Trận địa bố trí gần, phạm vi quan sát rộng, nên từ đây với thế mạnh của loại cối 81 ly đi sát bộ binh, chúng tôi có thể trực tiếp chi viện hỏa lực cho trung đoàn đánh C1, đánh C2 và khi cần, có thể hiệp đồng chi viện hỏa lực cho đơn vị bạn chiến đấu ở A1 và làm các nhiệm vụ chiến đấu khác.

17 giờ ngày 30 tháng 3 năm 1954, đợt tiến công thứ hai của chiến dịch bắt đầu. Pháo binh ta bất thần bắn mạnh vào sở chỉ huy Đờcátxtơri, các cứ điểm A1, C1, D1 và đồi E, các trận địa pháo binh và quân cơ động của địch. Trên đồi C1, 30 trái đạn lựu pháo 105 ly của Mặt trận và hàng trăm quả đạn cối 81 ly của đại dội tôi cùng với cối 60 ly của tiểu đoàn bộ binh đã giáng đòn sấm sét đánh dập đầu quân địch, tạo điều kiện cho bộ binh của Trung đoàn 98 nhanh chóng mở cửa đột phá, xung phong tràn vào đánh địch, tiêu diệt và bắt sống 140 tên thuộc tiểu đoàn 1 lính Marốc, chiếm được cứ điểm này sớm hơn 45 phút so với thời gian mà trung đoàn trưởng Vũ Lăng đã hứa với Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Sau khi hoàn toàn làm chủ C1, trung đoàn lệnh cho các đơn vị nhanh chóng củng cố lại lực lượng, cải tạo và đào mới công sự, chuẩn bị mọi mặt để phòng địch phản kích từ C2 vượt qua “yên ngựa” đánh chiếm lại C1.

Trong khi đó ở A1, cuộc chiến đấu giữa ta và địch vẫn đang diễn ra rất gay go ác liệt. Ngày 9 tháng 4 năm 1954, được lực lượng nhảy dù tăng cường, có pháo binh, xe tăng và máy bay yểm hộ, địch tiến hành phản kích lớn, từ C2 ngược qua “yên ngựa” đánh sang nhằm chiếm lại C1 để bảo vệ sườn bên trái của A1, khôi phục lại khu phòng ngự then chốt của chúng ở cửa ngõ phía đông khu trung tâm Mường Thanh. Do dự kiến trước được tình huống đó nên trung đoàn đã có phương án chủ động đánh trả địch ngay từ đầu rất quyết liệt. Riêng hỏa lực súng cối 81 ly của đại đội chúng tôi phải hoàn thành 2 nhiệm vụ: Một mặt phải bắn tập trung mãnh liệt vào khu “yên ngựa” phá vỡ đội hình phản kích của địch, cùng với hỏa lực các loại của pháo binh, bộ binh tạo thành một lá chắn lửa trước tiền duyên phòng ngự của ta, kết quả là đã diệt được nhiều sinh lực địch, bẻ gãy các đợt xung phong của chúng. Mặt khác phải sẵn sàng khi có lệnh hoặc yêu cầu của bộ binh, kịp thời di chuyển hỏa lực bắn vào cột cờ trên đỉnh đồi C1, chế áp tiêu diệt địch khi chúng đột nhập vào tung thâm phòng ngự của ta.

Nhiệm vụ thứ hai này là nan giải nhất đối với chúng tôi. Nan giải bởi phải làm sao cản diệt được địch mà không sát thương quân ta khi cả ta và địch đều rất gần nhau, khi ở đây ta đông người, địa hình hẹp, giao thông hào chật và nông, không cho phép chúng tôi đặt cả chân và bàn cối bắn theo bài bản.

Khó khăn thế, nhưng lại không thể thiếu hỏa lực pháo cối theo lệnh của trung đoàn, trong lúc tại trận địa cơ bản chưa khắc phục được trở ngại trên.

Chính trong lúc đó, cách “bắn ôm nòng” của chúng tôi đã phát huy được tối đa tính ưu việt của hỏa lực cầu vồng diệt địch ở địa hình có nhiều “góc chết”. Bằng cách này, tôi đã cho 2 khẩu 81 ly lên C1 bỏ hết bàn và chân lại, để một pháo thủ vai đỡ và tay ôm lấy nòng và một pháo thủ khác bắn với góc gần 90 độ phóng đạn vào đội hình địch. Kết quả là đạn nổ đều ở cự ly rất gần, cách bộ binh ta chỉ khoảng trên dưới 100 mét. Ngay trong ngày đầu đánh địch phản kích và một vài ngày sau đó, cách bắn “ôm nòng” đánh địch trên đồi C1 rất có hiệu quả.

Bằng cách “ôm nòng” trên, sau hai ngày, khi trận địa cơ bản đã phát huy được hết thế mạnh, đại đội “bộ binh pháo” chúng tôi cùng với lựu pháo đã kịp thời chi viện rất có hiệu quả cho bộ binh tiêu diệt nhiều sinh lực địch và đánh bại nhiều cuộc phản kích của chúng vào cứ điểm C1 mà ta đã làm chủ.

Trong những ngày đầu đánh địch phản kích, cũng đã có lần địch vào được tung thâm phòng ngự của ta và chiếm lại được Cột cờ trên đỉnh đồi C1. Trong những trường hợp như vậy, nhiều trận đánh giáp lá cà xảy ra rất ác liệt. Ta và địch quần nhau, giành giật từng tấc đất, từng ụ súng, từng mét chiến hào. Có lúc bộ binh yêu cầu súng cối của chúng tôi bắn ngay vào Cột cờ, nơi đó địch bố trí một khẩu đại liên rất lợi hại, và Cột cờ cũng là cái mốc phân chia giới hạn: Địch chiếm một nửa đồi phía cao, ta chiếm một nửa đồi phía thấp, và cũng là vật chuẩn để chỉ thị mục tiêu cho hỏa lực pháo binh, súng cối. Đây là một yêu cầu cấp bách và rất khắt khe. Theo lệnh của trung đoàn, đại đội chúng tôi vừa phải bảo đảm chế áp tiêu diệt địch ở khu vực cột cờ, vừa phải bảo đảm an toàn tối đa cho bộ binh. Đại đội dùng 3 khẩu bắn tiếp tục vào “yên ngựa”, còn 6 khẩu 81 ly bắn tập trung đồng loạt, sau đó bắn từng khẩu một từ Cột cờ lên phía cao điểm để duy trì lúc nào cũng có tiếng nổ cối 81 chế áp và tiêu diệt địch. Sau loạt đạn đầu và những đợt bắn tiếp theo, nhờ có quan sát mắt hiệu chỉnh nên đại bộ phận đạn rơi trúng mục tiêu và bảo đảm an toàn cho bộ binh ta. Sở dĩ chúng tôi làm được như vậy là do ở cự ly gần 350 mét, sai số tản mát của súng cối nhỏ hơn so với lựu pháo. Vả lại, cột cờ là vật chuẩn đã qua nhiều lần bắn thử và bắn thật nên chúng tôi có phần tử rất chính xác và rất “tinh mắt” cả về cự ly và về hướng.

Trong thời gian chiến đấu, có lần trung đoàn trưởng Vũ Lăng xuống trận địa đại đội để động viên bộ đội và kiểm tra tình hình chiến đấu của đơn vị. Ngay sau khi đi kiểm tra từng khẩu đội, khi về đài quan sát, trung đoàn trưởng lệnh cho đại đội bắn thử một phát vào “yên ngựa”. Sau khẩu lệnh xạ kích của tôi chưa đầy một phút, từ trên C1 báo về đạn rơi đúng mục tiêu Y1 (yên ngựa 1) nhưng trên mặt “yên ngựa” chỉ thấy một ít khói mỏng bay là là mặt đất. Lúc này, trung đoàn trưởng có vẻ hơi khó chịu, không vui, nhưng đồng chí vẫn cố ghìm được cái tính “nóng như lửa” của mình. Đồng chí hỏi tôi: Sao? Đạn rơi chính xác không? Tôi đáp: Dạ, báo cáo anh, đạn đã rơi đúng mục tiêu, nhưng đây là mục tiêu “yên ngựa 1” nằm thấp ở sườn trái phía bắc “yên ngựa” mà địch thường lợi dụng để phản kích ta. Còn trên mặt “yên ngựa”, chúng tôi đánh số là Y2. Căn cứ vào đó, đại đội tính toán phần tử chính xác căn cứ vào kết quả nhiều lần bắn thật để khi địch phản kích hoặc bộ binh yêu cầu là bắn được ngay. Để kiểm tra báo cáo của tôi, trung đoàn trưởng lệnh cho bắn tiếp 2 quả vào Y2. Và cũng chỉ sau khoảng 40 giây, lần lượt 2 quả đạn cối đã nổ trên bề mặt “yên ngựa”. Một đám khói đen to cuốn theo bụi đất đã che lấp một phần nhỏ “yên ngựa”. Trung đoàn trưởng cười và rất vui, còn tôi thở phào nhẹ nhõm. Một cán bộ trung đội đứng gần đó đã xin phép trung đoàn trưởng đọc câu thơ do anh em đơn vị tự sáng tác:

“Súng cối cấu tạo nhẹ nhàng
Bắn nhanh, chính xác ngang hàng pháo binh”.


Trung đoàn trưởng lại cười, biểu dương khen ngợi và dặn dò động viên chúng tôi chuẩn bị mọi mặt để có thể phải đánh địch phản kích lâu dài giữ đồi C1. Trước khi về Sở chỉ huy trung đoàn, Trung đoàn trưởng nói: Từ nay trở đi, khi đánh địch phản kích, đại đội trưởng được quyền quyết định số lượng đạn cối vào “yên ngựa” và Cột cờ mà không phải chờ lệnh của Trung đoàn, dễ mất thời cơ hỏa lực. Nhưng phải hết sức tiết kiệm đạn và không được đụng đến cơ số đạn dự bị nếu không có lệnh của trung đoàn.

Việc tiết kiệm đạn pháo là rất nghiêm ngặt. Bộ chỉ huy Mặt trận quy định rất cụ thể. Đạn cối 81 ly của đại đội tôi đều do cấp trên cấp. Nhưng trong đợt tiến công này, có đến gần 30% số đạn là do chúng tôi hoặc đơn vị bạn đoạt được từ những chiếc dù của địch thả lạc vào trận địa ta. Có lẽ nắm chắc được vấn đề này nên trung đoàn trưởng mới “nới” tay như vậy.

Trong 31 ngày đêm, cuộc chiến đấu trên đồi C1 diễn ra rất gay go, ác liệt, liên tục không kể ngày đêm. Cho đến trước ngày 1 tháng 5 năm 1954, ta và địch vẫn chỉ dừng lại ở vị trí lấy cột cờ làm mốc: Địch chiếm một nửa đồi phía cao, ta chiếm một nửa đồi phía thấp. Số phận của C1, A1, C2 và toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ chỉ được định đoạt trong đợt tiến công thứ ba từ ngày 1 tháng 5 năm 1954 đến ngày 7 tháng 5 năm 1954, khi lá cờ Quyết chiến Quyết thắng của Bác Hồ muôn vàn kính yêu trao cho Quân đội ta tung bay trên nóc hầm Đờcátxtơri, báo hiệu sự toàn thắng của chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn