Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

ĐẠI ĐỘI TÔI TRONG TRẬN ĐÁNH HIM LAM

Hồi ức đưa người đọc trở lại những đêm đông năm 1954, khi quân ta thực hiện một khối lượng công việc khổng lồ dưới lòng đất: từ việc xây dựng hệ thống giao thông hào "hạ thổ" xuyên suốt các cánh rừng đến kỹ thuật làm bếp Hoàng Cầm không khói để giữ bí mật tuyệt đối. Trận đánh Him Lam hiện lên như một cuộc đối đầu nghẹt thở giữa ý chí thép của "Bộ đội Cụ Hồ" và lực lượng Lê dương thiện chiến của Pháp. Dù phải chịu đựng làn mưa pháo 6.000 quả đạn dội xuống trong suốt 5 tiếng đồng hồ, các chiến sĩ

Lai Châu03/03/2026Ban Biên tập tổng hợp4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chúng tôi làm công việc ngụy trang con đường kéo pháo bằng ô tô, “cái niềng kim cô”, đối với số phận tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ - khoảng chừng một tuần lại chuyển quân.

Trước mặt là kẻ thù mà chúng tôi có nhiệm vụ tiêu diệt: cụm cứ điểm Him Lam, cánh cửa sắt phía đông bắc Điện Biên Phủ, do một tiểu đoàn Lê dương chiếm giữ. Đây là lực lượng tinh nhuệ, thiện chiến số một của quân viễn chinh Pháp. Bọn Lê dương đầy kiêu ngạo về những chiến thắng đối với phát xít Đức ở miệt sông Rhin trong chiến tranh thế giới thứ II.

Đơn vị tôi đóng quân trong một cánh rừng cách Him Lam vài cây số. Vẫn bối cảnh: “Rừng bao nhiêu lá, bấy nhiêu anh bộ đội Cụ Hồ”. Ngay cánh rừng phía trước Him Lam là Trung đoàn 141 - Trung đoàn Ba Vì - của Đại đoàn 312.

Bộ đội hoàn toàn giữ được bí mật. “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”, nên bọn Pháp không hay biết gì cả. Đờcátxtơri cho máy bav Đa-cô-ta rải truyền đơn rơi khắp các cánh rừng với lời lẽ ngạo mạn, thách thức Đại tướng Võ Nguyên Giáp tấn công Điện Biên Phủ... Sau này, Đờcátxtơri bị bắt làm tù binh, anh Hoàng Cầm lúc đó là Trung đoàn trưởng có hỏi y tại sao dám thách thức như vậy? Đờcátxtơri nói là không dám thách thức Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Anh Hoàng Cầm nói tiếp: có chữ ký của ông trên truyền đơn. Đờcátxtơri nói: “Bộ chỉ huy Pháp ở Hà Nội làm ra tất cả”.

Tôi coi qua nội dung truyền đơn và nghĩ: “Chiến dịch này cũng ngộ. Trước lúc súng nổ, địch lại có truyền đơn thách thức quân ta, giống như tuồng hát bội, hai bên thách thức rồi mới xáp trận...”. Tôi nghĩ tiếp: “Khỏi thách thức, bộ đội Việt Nam sẽ tấn công và đập tan cứ điểm Điện Biên Phủ”. Máu anh hùng, lòng tự hào dân tộc càng tăng trong lòng người chiến sĩ Việt Nam.

Suốt ngày, bộ đội đào công sự, cưa cây rừng để chống và lót nắp hầm. Theo yêu cầu của trên, chúng tôi phải làm hầm trú ẩn cho từng tổ chiến sĩ, nó phải chịu nổi một quả pháo 105 ly hoặc một trái súng cối 120 ly. Nếu bị trúng bom thì chỉ hy sinh một tổ “ba - ba” (ba chiến sĩ) mà thôi.

Trong ban chỉ huy đại đội chúng tôi có anh Muộn, xuất thân là thợ mỏ Hòn Gai, nên có kinh nghiệm chống hầm lò than. Anh chỉ dẫn cho anh em cách bố trí các cây chống nắp hầm sao cho có sức chịu lực cao để chống chọi với sức công phá của đạn đại bác. Riêng tôi cũng như anh Thiêm, đội trưởng, đi đánh giặc từ năm 15 tuổi, đến lúc đó chưa bao giờ có một căn hầm tránh bom pháo, nên cũng còn hiểu theo kiểu áng chừng vậy!

Trong chiến sĩ có vài anh em là du kích ở đồng bằng Bắc Bộ, có kinh nghiệm đào hầm bí mật. Mấy anh em ấy chỉ dẫn kinh nghiệm làm sao đào có năng suất mà khỏi bị phồng da tay để còn cầm súng tác chiến.

Khi các hầm tránh bom pháo đã được xây dựng xong, mỗi tổ “ba-ba” có một hầm tương đối vững chắc, đơn vị bắt đầu đào giao thông hào nối liền các hầm ấy thành một hệ thống, nối cả với hầm trú ẩn và hầm bếp của anh em cấp dưỡng trong đại đội.

Bếp của “anh nuôi” dĩ nhiên là bếp không khói - bếp Hoàng Cầm”. Bếp lấy tên của người chiến sĩ anh nuôi có sáng kiến làm bếp không bốc khói là Hoàng Cầm. Không phải nhà thơ quân đội Hoàng Cầm. “Có lửa phải có khói”, đó là lẽ tự nhiên, nhưng được xử lý qua màng lọc bằng lớp lá cây xanh, lớp đất ướt, nên chỉ còn lại ít hơi nước tỏa rộng là đà trên mặt đất. Ta vẫn nấu cơm, có lửa, có khói mà lại được che khuất, máy bay trinh sát của địch không tài nào phát hiện được.

Khi hầm trú ẩn, giao thông hào được nối liền thông suốt, chúng tôi lại đào giao thông hào từ địa điểm trú quân của đại đội nối liền với giao thông hào trục của tiểu đoàn và trung đoàn.

Từ đó, mọi việc ăn ở, đi lại, nghỉ ngơi đều ở dưới mặt đất, nghĩa là “hạ thổ” và “độn thổ”. Quy mô giao thông hào, hầm tránh phi pháo của bộ đội ở mặt trận này tựa như một trận địa chính quy dưới lòng đất.

Chúng tôi được trên giải thích: “Nếu chúng ta có chừng 100 khẩu đại bác cỡ 105 ly và có máy bay thì ta sẽ đánh Điện Biên kiểu khác”. Trong vòng 3 đêm 2 ngày nổ súng liên tục là dứt điểm chiến địch, quét sạch quân thù.

Chúng tôi đoán chừng, chúng ta chỉ có một trung đoàn đại bác 105 ly với khoảng vài chục khẩu pháo 105 ly và vài chục cao xạ loại 57 ly, cho nên phải làm trận địa để “đánh chắc, tiến chắc”. Đó là tư duy quân sự khoa học, khách quan. Nhờ đó mới có chiến thắng lẫy lừng.

40 năm sau, khi gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở Điện Biên, tôi được biết rõ việc chuyển phương châm tác chiến “đánh nhanh, thắng nhanh" qua “đánh chắc, tiến chắc” là một quyết định khó khăn nhất trong đời cầm quân của Đại tướng. Đại tướng phải nhờ quân y sĩ, lấy lá ngải rừng đắp hai bên màng tang cho đỡ nhức đầu... Nhân dân, Quân đội, các vị cách mạng lão thành luôn quý mến, kính phục những cống hiến xuất sắc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đối với cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc.

Công việc xây dựng trận địa không phải chỉ trong một vài tuần và an toàn như lúc mới ban đầu. Mà làm trận địa, như cách nói lúc đó là đào trận địa rất gay go, nguy hiểm, mệt mỏi, anh em còn ngán ngại hơn là nổ súng chiến đấu.

Chiến đấu, dù có thương vong, nhưng được khen thưởng. Đào trận địa cũng nguy hiểm, đào hoài rất mệt mà gần như không ai được khen thưởng. Tôi làm chính trị viên đại đội, động viên anh em đi chiến đấu thì dễ, mà động viên anh em đào trận địa cho đông đủ rất là khó khăn.

Tối 11 tháng 3 năm 1954, cho đến khuya, đại đội chúng tôi đào chiến hào vào sát rào kẽm gai Him Lam.

Tối ấy, tôi và anh Thiêm đại đội trưởng “ở nhà” (nơi trú quân) nghỉ ngơi lấy sức để tối hôm sau chỉ huy đơn vị chiến đấu.

Anh Muộn, đại đội phó và anh Huân, chính trị viên phó, chỉ huy thay chúng tôi.

Anh Thiêm vốn là cán bộ trung đội ở tiểu đoàn Phủ Thông, qua mấy chiến dịch được lên đại đội trưởng. Anh Muộn cũng ở tiểu đoàn này nhiều năm, là đại đội phó lâu chưa được đề bạt, nên cũng có tâm trạng riêng, dè dặt, thận trọng trong mọi việc. Cả hai đều là cán bộ dũng cảm, có kinh nghiệm đánh giặc giỏi.

Anh Huân vốn là cán bộ quân pháp, cấp tiểu đoàn, đã từng tham gia giành chính quyền ở “Bắc Bộ phủ” hồi cách mạng tháng Tám năm 1945, nhưng do tính nóng nảy chủ quan, anh chỉ giữ chức chính trị viên phó. Anh Huân là người trung thực, khẳng khái, nhưng chưa có kinh nghiệm chiến đấu bao giờ.

Về tuổi đời, các anh ấy đều lớn hơn tôi nhiều. Nhưng tôi lại là chính trị viên đại đội lâu năm, trực tiếp chiến đấu nhiều, bí thư chi bộ và Đảng ủy viên tiểu đoàn; nên tuy nhỏ tuổi hơn các anh ấy, các anh ấy vẫn tín nhiệm và nể nang.

Chúng tôi thông cảm, yêu thương nhau trong tình đồng chí, đoàn kết và hết lòng lo cho đơn vị lập công.

Tôi và đại đội trưởng nghỉ “ở nhà”, nhưng vẫn tin nơi tinh thần và khả năng chỉ huy của hai anh Muộn và Huân, tin đơn vị sẽ hoàn thành việc đào công sự.

Có một sáng kiến do tiểu đoàn phổ biến cho chúng tôi thực hiện: “con lăn đỡ đạn”. Con lăn là thân cây chuối rừng. Dùng sọt tre, sọt nứa đan sẵn, đem theo ra chỗ đào chiến hào. Khi chiến sĩ đào công sự nằm lấy đất cho vô sọt tre. Khi sọt tre đầy đất, có thể đỡ đạn bắn thẳng của địch, đến khi chiến hào đã đào được sâu, đất mới đào lên phủ luôn lên thân chuối rừng và sọt tre thành bờ chiến hào.

Thời gian đào trận địa hơi ngắn và chưa ai quen đào chiến hào ngay trước mũi súng của giặc, nên công sự còn cạn, chưa đủ tiêu chuẩn tránh được đạn pháo địch sát thương.

Trang nhật ký cuối cùng của tên quan ba (đại úy) Pháp ở Him Lam ghi vắn tắt: “Nghe có nhiều tiếng động... Sáng ra thấy nhiều vị trí súng tự động...”.

Sáng 12 tháng 3 năm 1954.

Xe tăng và lính Pháp tràn ra, đánh bật mấy tổ phòng ngự của ta. Xe tăng quần nát chiến hào của đại đội đào đêm qua. Chúng ủi lấp cành cây xuống chiến hào, cho cành cây, rễ cây lẫn lộn với đất cát, gây cho ta rất khó khăn khi đào lại.

Do Đờcátxtơri cấp báo về Hà Nội, trưa 12 tháng 3 năm 1954, tướng Cô-nhi bay “chớp nhoáng” lên Điện Biên, trực tiếp kiểm tra tình hình, rồi bay ngay về Hà Nội. Chiều hôm đó, Cô-nhi điện mật cho Đờ-cát: “Ngày mai, 17 giờ ngày 13 tháng 3 quân địch sẽ tấn công Him Lam”. Nhưng tình báo của Đờ-cát, lại cho rằng: “Ngày 13 tháng 3 là ngày xấu! Việt Minh sẽ tấn công vào tối 15 tháng 3 năm 1954”.

Tối 12 tháng 3 năm 1954, sương mù làm cho ánh trăng trở nên mờ ảo. Theo lệnh của Cô-nhi, Đờ-cát cho tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ chuyển sang trạng thái báo động.

Sáng trăng, dù chỉ là sáng mờ mờ, cũng đủ để kẻ địch quan sát, phát hiện chúng tôi đang đào trận địa.

Ngày hôm ấy, hai tên lính Lê dương vác súng ra hàng. Họ nhìn thấy đơn vị chúng tôi đào trận địa trong đêm trước, qua kính hồng ngoại tuyến. Nhưng họ không dám báo cáo cho chỉ huy biết. Lý do? Theo lời khai của hai hàng binh, nếu họ báo cáo có Việt Minh, họ sợ chỉ huy bắt họ phải sục sạo bên ngoài rào kẽm gai. Họ sợ bị bên ta phục kích bắn chết. Nghe cũng có lý, họ là lính đánh thuê, đâu có lý tưởng gì mà phải chết cho uổng mạng.

Trăng sáng, “thiên thời” bất lợi cho chúng tôi. Bởi lẽ đây không phải lúc chúng tôi ngắm đồn thù qua ánh trăng mờ ảo và cũng chưa đến lúc ngắm “ánh trăng xanh tuôn dòng suối mát, cho hồn ta ngụp lặn những đêm hè” (Nam Cao). Càng không phải “ánh trăng mờ tan thành suối trần gian” (Văn Cao). Mà chúng tôi cần bóng tối đêm đen để giữ bí mật, khi chưa đến giờ nổ súng.

Đêm qua, đơn vị đào trận địa ở chỗ nào, địch đã phát hiện quá rõ ràng và tất nhiên nó đã ghi vào tọa độ trên bản đồ xạ kích. Pháo binh của địch sẵn sàng nã đạn, nếu đêm nay chúng lại phát hiện chúng tôi. Mà chúng tôi nhất thiết phải khôi phục lại chiến hào, đào cho đủ tiêu chuẩn bề sâu.

Đầu óc của chúng tôi suy nghĩ căng thẳng, tìm cách khắc phục cho bằng được. Anh Thiêm và tôi dẫn đại đội tiến về Him Lam, đem theo mấy khẩu súng phòng hờ. Ban đêm, kẻ địch cố thủ trong lô cốt, không dám mò ra.

Ra đến suối Nậm Rốm, anh Thiêm cho đơn vị im lặng qua suối. Công binh đã làm sẵn cầu tre ngầm dưới mặt nước, để giữ bí mật đường xuất kích của quân ta. Anh em cứ lặng lẽ đi trên cầu, qua con suối lớn, cũng có thể gọi là sông Nậm Rốm.

Tôi nhìn lên quả đồi bên trái, thấy gốc cây khô bị cháy, gió thổi làm cho ngọn lửa thỉnh thoảng lại sáng hồng lên. Đó là chỉ huy sở của tiểu đoàn. Tôi dừng lại, gặp và hội ý đôi điều với Ban chỉ huy tiểu đoàn, rồi từ từ qua suối, lên phía trước.

Cả đại đội chúng tôi như một con rắn khổng lồ màu xanh đậm, từ từ lặng lẽ bò sát mặt đất, tiến gần, tiến gần đến sát chân đồi. Giờ phút căng thẳng nhất đã trôi qua.

Giặc ở trong đồn không hay biết gì cả.

Anh em lấy xẻng (cái vá, theo tiếng Nam Bộ) đào công sự theo tư thế nằm, rồi đào theo tư thế ngồi, quỳ và đứng bắn. Nghĩa là cứ đào lần lần, nhưng hết sức tích cực, từ hố cạn đến vừa đến sâu khoảng gần một mét. Việc đào lại chiến hào khó hơn lúc mới đào. Đất cát tuy có tơi xốp hơn nhưng cành cây, rễ cây lẫn lộn trong đó, anh em phải vừa đào vừa moi cành cây, rễ cây, tốn thời giờ nhiều. Tuy nhiên, anh em ráng hết sức, đào hố sâu thêm, nếu bị địch phát hiện nã pháo ra, ta đã có công sự tránh đạn.

Sau khi hố từng người sâu khoảng bảy tấc, anh em lại đào nối hố cá nhân này với hố cá nhân khác và đào tiếp thành chiến hào.

Đêm đã khuya, trăng lặn sau dãy núi xa xa. Cảnh vật yên tĩnh. Đơn vị vẫn ráo riết đào. Có chiến sĩ gặp rễ cây chắn ngang chiến hào, tôi lấy con dao chiến lợi phẩm, nhiều lưỡi, cán của nó làm bằng hai miếng sừng hươu ép hai bên, có cả hai lưỡi cưa. Tôi đưa anh em cưa rễ cây thử xem sao, các rễ cây nhỏ đều đứt tuốt.

Nhận thấy tình hình đào chiến hào khả quan mà địch không hay biết gì, tôi đến tiểu đội mũi nhọn ở phía trước, động viên anh em bò lên đào hào càng gần hàng rào càng lợi cho ta. Anh Dực, tiểu đội phó, sẵn sàng dẫn một tổ bò lên đào tiếp. Anh Dực, quê khu Bốn, chiến đấu gan dạ, tính tình vui vẻ, thật thà. Anh Dực và mấy anh em đào tiếp được hơn một tiếng đồng hồ. Địch nghe có tiếng động, bắn một phát súng báo động.

Tín hiệu màu đỏ của địch được bắn lên giữa đêm thanh vắng, nó từ từ rớt xuống. Bầu trời lại tối đen như lúc nãy.

Chúng tôi chờ đợi địch phản ứng ra sao?

Loạt đạn đại bác và súng cối từ bên trong cứ điểm dội xuống gần suối Nậm Rốm.

Trời gần sáng, anh Thiêm cho đơn vị rút về chỗ ở để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu tối hôm sau:

Trưa 13 tháng 3 năm 1954, chúng tôi chuẩn bị xuất kích. Mấy nhà báo đến thăm chúng tôi. Anh Thép Mới lúc ấy còn quá trẻ, dong dỏng cao, trắng trẻo, giống chàng thư sinh Hà Nội.

Tôi nói chuyện vui vẻ với mấy anh phóng viên về quyết tâm chiến đấu, góp sức tiêu diệt cứ điểm Him Lam, như chúng tôi đã từng tham gia chiến đấu tiêu diệt bao nhiêu cứ điểm kiên cố khác ở Ba Huyên, Vĩnh Yên; Ba Lay (Tây Bắc); Ba Vì (Sơn Tây); Sốp Hào (Sầm Nưa)... Đó là Tiểu đoàn Phủ Thông đầy tự hào của chúng tôi với lời hát “...Phủ Thông khói lửa ngập trời. Chiến binh xông vào”. Trong chiến dịch lớn này, chúng tôi được vinh dự nổ súng mở màn!

Đơn vị xuất kích bí mật, khẩn trương, khoảng 2 giờ chiều, trời nắng đẹp. Tuy nhiên, cũng chưa biết trận đánh sẽ diễn biến như thế nào? Bởi vì đây là lần đầu tiên chúng tôi đánh một cụm cứ điểm do một tiểu đoàn thiện chiến phòng ngự trong công sự kiên cố của tập đoàn cứ điểm.

Đồi Him Lam có ba đỉnh. Mỗi đỉnh là một cứ điểm. Mỗi đại đội chiếm giữ một cứ điểm. Chỉ huy sở và súng cối đặt ở cứ điểm trung tâm.

Nhiệm vụ của Tiểu đoàn Phủ Thông là phải tiêu diệt Chỉ huy sở tiểu đoàn Lê dương thiện chiến ở Him Lam; Đại đội chúng tôi là đại đội xung kích thứ 3 của tiểu đoàn.

Chúng tôi được trên cho biết: có 8 khẩu pháo 105 ly bắn vào Him Lam để yểm trợ cho bộ binh. Tuy nhiên, theo chúng tôi được biết sau trận đánh, đạn đại bác 105 ly (do Mỹ sản xuất) để đã lâu năm, nên 120 phát bắn vô Him Lam có nhiều quả không nổ. Bù lại, có nhiều súng cối 120 ly, sơn pháo và ĐKZ 75 ly yểm trợ mạnh mẽ. Súng cối 82 ly sẽ bắn yểm trợ cho xung kích. Hỏa lực của ta mạnh hơn nhiều so với địch. Ấy là chưa tính đến các trận địa cao xạ pháo cũng sẽ bắt đầu ra oai với không quân Pháp. Nhưng, Him Lam được nhiều đơn vị pháo binh 105 ly, 155 ly, súng cối 120 ly của tập đoàn sẽ yểm trợ. Vả lại đạn đại bác và súng cối hạng nặng của Pháp vừa dư thừa lại vừa mới tinh, bắn đâu nổ đó.

Khi chúng tôi tiến đến giao thông hào trục của Trung đoàn đã thấy các đơn vị thông tin, các bộ phận tham mưu, chính trị của cấp trên đã triển khai, các cơ quan nhường cho chúng tôi tiến ra phía trước.

Đại đội 245 ra gần suối Mường Thanh thì dừng lại. Trời còn nắng sáng.

Máy bay trinh sát của địch bay vòng vòng bên trên chúng tôi để quan sát.

Đúng 17 giờ, toàn mặt trận vẫn yên tĩnh (theo tài liệu sau này của Pháp, lúc này trung tá Lăng-gle bỏ vị trí đi tắm mát). Đờcátxtơri cũng đặt máy xuống, nhấm nháp ngụm cà phê.

Trong bầu trời của Điện Biên, lần đầu tiên tôi thấy hàng loạt đạn cao xạ của ta nổ bùng, bung thành những cụm khói bám theo sát máy bay địch. Chúng vội vã bay vọt lên cao.

17 giờ 15 phút, các đơn vị pháo binh, súng cối hạng nặng của ta dồn dập dội lửa xuống Him Lam. Cụm cứ điểm chìm ngập trong lửa khói mịt mù. Các quả đồi bị đạn pháo ta bắn phá dữ dội lửa khói liên tiếp trùm lên. Nó giống như một cái chảo khổng lồ, đen thui lật úp xuống.

Trong khoảng 45 phút, bọn giặc trong cứ điểm bị đánh bất ngờ dồn dập, nên im re chưa bắn trả lại được.

Bỗng một loạt đạn pháo 105 ly của địch từ các trận địa pháo binh ở Mường Thanh ầm ầm trút xuống trung đội phía sau chúng tôi. Từ đó, pháo binh địch cứ bắn cấp tập như mưa, nổ rền như sấm sét.

Lính Lê dương được pháo binh yểm trợ đắc lực đã trấn tĩnh lại và bắt đầu bắn xối xả xuống chiến hào của chúng tôi.

Trời bắt đầu tối.

Chúng tôi nối nhau chạy nhanh trên cầu ngầm vượt qua suối Nậm Rốm. Cũng may, gần như không có quả đại bác nào bắn trúng cầu, chúng tôi vượt qua suối an toàn và nhanh chóng.

Theo chiến hào đào đêm qua, chúng tôi vừa tránh đạn pháo của địch, vừa tiến lên. Khi đến bãi đất trống, cả đơn vị phải dừng lại, chịu đựng cơ man đạn pháo địch suốt 5 tiếng đồng hồ liền.

Chúng tôi phải chờ các chiến sĩ bộc phá anh dũng vọt lên mặt đất, đánh phá hàng rào kẽm gai dày đặc, có đủ thứ mìn sát thương, mìn pháo sáng trong lúc đạn đại liên, đạn pháo, đạn súng cối của địch nã dữ dội.

Chiến hào chúng tôi đào đêm qua còn cạn, nên việc tránh đạn pháo của địch chưa bảo đảm. Đạn pháo địch dội liên tiếp như vãi cát xuống chiến hào. Trong 5 tiếng đồng hồ, quân Pháp đã bắn 6.000 quả đạn pháo chung quanh đồi Him Lam. Đạn liên thanh trên đồi cũng vãi xuống như mưa.

Tôi phải liên tiếp quan sát hỏa điểm ở phía trước để kịp thời cho đơn vị tiến lên. Dĩ nhiên, đó là nhiệm vụ chính của anh Thiêm, đại đội trưởng. Nhưng tôi là chính trị viên cũng phải cùng chung trách nhiệm.

Pháo binh địch vẫn liên hồi dội lửa xuống chiến hào. Nếu so với mấy lần bị bom B52 của Mỹ rải thảm mà tôi đã ở giữa cái biển lửa rùng rợn ấy trong thời chống Mỹ sau này, thì mức độ đạn pháo trong đêm đánh Him Lam ác liệt hơn nhiều. Vì bom rải thảm tuy khốc liệt thiệt, nhưng mình có hầm vững chắc và nhất là thời gian bom nổ liên hồi chỉ trong vòng mấy chục phút của ba đợt, 9 chiếc B-52 là xong. Còn chịu đựng pháo địch bắn suốt mấy tiếng đồng hồ liền không ngớt thì thật là căng thẳng thần kinh cực độ.

Lúc đó, chủ yếu chúng tôi phải quan sát hỏa điểm địch để sẵn sàng xung phong. Việc bị thương hay hy sinh là điều dĩ nhiên, không tránh khỏi.

Trong giờ phút ác liệt nhứt này, tôi đã vĩnh biệt đồng chí liên lạc thân yêu, hiền lành, nhân ái, đã cùng tôi trải qua bao chiến dịch, bao trận công đồn, cho đến giờ phút mở màn chiến dịch Điện Biên. Đồng chí ấy tên là Chân.

Đồng chí Chân vẫn ngồi ngay sát bên tôi, dưới chiến hào. Thỉnh thoảng, tôi lại nhắc :

- Quan sát hỏa điểm trước mắt, nhé!

- Vâng ạ!

Nhưng lần này, tôi nhắc đi nhắc lại mấy tiếng: "Quan sát hỏa điểm trước mặt!"

- …

Anh Chân lặng yên, da thịt anh còn nóng hổi. Anh đã hy sinh mà không một lời vĩnh biệt. Tôi hiểu ngay, anh đã bị đạn súng liên thanh ở cái hỏa điểm trước mặt, nó bắn chúc xuống chiến hào, chẳng may trúng anh trong gang tấc. Tôi buồn muốn bật khóc, vì anh Chân là người sống gần gũi, ăn, ở, ngủ luôn bên tôi. Gói ớt khô của đồng bào Mậu A cho anh, anh đã tặng lại cho tôi và có một gói thuốc sợi vàng anh cũng dành cho tôi.

Đạn đại bác vẫn nổ ầm ầm chung quanh đơn vị; đạn pháo nổ chớp chớp sáng rực, như sấm sét xé trời, liên tiếp quanh chúng tôi.

Trong giờ phút ác liệt, Tiểu đoàn 428 mở cửa đột phá, đã xuất hiện Phan Đình Giót anh dũng diệt lô cốt đầu tiên, mở đường tấn công cho đơn vị. Đồng chí Phan Đình Giót đã nêu cao một tấm gương anh hùng.

Mấy cứ điểm bên cạnh đã bị tiểu đoàn 428 và tiểu đoàn 130 đánh chiếm, địch đã bị diệt sạch; các hỏa điểm của chúng câm bặt.

Pháo binh địch càng tập trung dội bão lửa xuống tiểu đoàn chúng tôi. Chúng bắn rất chính xác. Trong bản đồ xạ kích của pháo binh địch mà sau này ta lấy được, mũi chủ công của ta rơi đúng vào dự đoán của địch. Chúng ta cũng chỉ có thể mở mũi chủ công ở hướng này để phù hợp với địa hình và đánh thẳng vào Chỉ huy sở Him Lam.

Các trung đội bộc phá của hai đại đội 241 và 243 đã bị hỏa lực, mìn và pháo địch bắn thương vong gần hết, các lớp rào kẽm gai vẫn chưa phá xong.

Đến lượt trung đội bộc phá của chúng tôi phải làm tiếp nhiệm vụ “đột phá khẩu” - mở đường máu để đánh vào bên trong. Trung đội bộc phá cũng lần lượt thương vong đến chiến sĩ cuối cùng.

Sau trận đánh, tôi có hỏi anh em để rút kinh nghiệm: “tại sao bị thương vong lúc phá hàng rào nhiều đến vậy?”.

Anh em cho biết: do trời tối quá, khói mù mịt, đạn pháo địch tập trung bắn liên tiếp, có nhiều anh em ôm bộc phá tiến lên, chưa kịp cho bộc phá nổ đã thương vong; có anh em tưởng hàng rào chưa bị phá, chệch hướng, nên cho bộc phá nổ tiếp, phá tiếp lớp rào kẽm gai đã bị phá rồi, v.v...

Hỏa điểm bảo vệ các lớp rào kẽm gai do địch bố trí rất nguy hiểm cho ta. Một lô cốt chính luôn kèm thêm nhiều ụ súng vệ tinh, tạo ra nhiều hỏa điểm lướt sườn. Các chiến sĩ bộc phá bị thương vong nhiều là do các hỏa điểm bắn lướt sườn. Một chiến sĩ Bazôka bắn 4 phát đạn 90 ly áp đảo hỏa điểm địch, nhưng anh cũng hy sinh.

Trong tình thế cực kỳ gay go ấy, anh Ty - Trung đội phó bộc phá hô to:

- Trả thù cho anh em hy sinh. Hãy tiến lên!

Trong đơn vị bỗng vang lên tiếng gọi:

- Đảng viên Cộng sản, tiến lên!

- Ai là người trung thành với Đảng, tiến lên!

Hưởng ứng lời kêu gọi đó, Tiểu đội phó Phạm Văn Nhâm tuy chưa là đảng viên, nhưng đã dũng cảm xông lên đánh liền 2 ống bộc phá dài 2 mét bằng sắt, hoàn thành nhiệm vụ; lại tiếp tục đánh ống bộc phá thứ 3. Cũng may, người chiến sĩ bộc phá cuối cùng đã đánh phá dứt điểm lớp hàng rào kẽm gai cuối cùng, sát hỏa điểm địch.

Đại đội 243, Đại đội chủ công của Tiểu đoàn, như lưỡi gươm sắc nhọn xông lên đánh chiếm “cửa mở” và thọc sâu vào hướng chỉ huy sở tiểu đoàn địch.

Đại đội 241 đánh mạnh bên sườn trái đỉnh đồi chính của cụm cứ điểm, lọt được vào chiều sâu phòng ngự địch.

Đội đội 245 chúng tôi lập tức đánh mạnh vào sườn bên phải của địch.

Cả 3 đại đội cùng tấn công dũng mãnh theo ba hướng một cách nhanh chóng, đồng bộ, làm cho địch choáng váng tinh thần, đội hình liên tiếp bị phá vỡ và rối loạn.

Lê dương ư? Phen này chúng mày sẽ biết tay bộ đội Việt Nam.

Trong lúc tiến lên theo chiến hào, tôi phải chống hai tay trên hai bờ hào, đu người về phía trước để tránh thi thể của những đồng chí vừa hy sinh. Khi tiến qua các lớp rào kẽm gai vừa bị đánh bứt, tôi thấy nhiều anh em vừa mới hy sinh, tay vẫn ôm những ống bộc phá như lúc diễn tập ở thao trường. Hình ảnh đó càng giục giã chúng tôi xông lên trả thù cho đồng đội.

Nhảy vào lô cốt đầu tiên, tôi rút súng ngắn - khẩu súng K.54 vừa được trang bị trước khi đi chiến dịch, sẵn sàng nhả đạn. Tiếng pháo địch vẫn gầm vang ngoài cứ điểm để yểm trợ cho bọn địch đang sắp bị tiêu diệt.

Gặp một ổ đề kháng, chiến sĩ ta cho nó một chùm “thủ pháo” (lựu đạn có bọc thêm thuốc nổ làm tăng sức công phá lên rất dữ) và tiếp đến hàng loạt đạn K.50 – tiểu liên cũng vừa được trang bị trước khi đi chiến dịch.

Đánh tung thâm - đánh địch bên trong cứ điểm là bản lĩnh sở trường của Tiểu đoàn Phủ Thông. Yếu tố quyết định là tấn công dũng mãnh, chia cắt, thọc sâu, chia làm nhiều mũi, nhanh chóng đập tan đội hình địch, làm cho chúng trở tay không kịp, rối loạn, hoang mang.

Tiếng thủ pháo, tiếng tiểu liên dồn dập nổ, ba đại đội, ba mũi hiệp đồng chặt chẽ.

Khoảng 11 giờ 30 phút đêm 13 tháng 3 năm 1954, đồng chí Oanh đã phất cao cờ Quyết chiến Quyết thắng trên Sở chỉ huy Him Lam. Hai bên sườn, hai đại đội của ta tiếp tục tiêu diệt những ổ đề kháng cuối cùng của quân Pháp.

Cánh cửa sắt phòng thủ hướng đông bắc của tập đoàn cứ điểm Điện Biện Phủ đã bị đập tan.

Trận đánh mở màn chiến dịch đã toàn thắng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn