ĐẠI ĐỘI TRƯỞNG LÊ VĂN DỴ: NGƯỜI ANH HÙNG “ĐÂU CÓ GIẶC LÀ TA CỨ ĐI” VÀ HUYỀN THOẠI TRÁI LỆNH TRÊN ĐỒI C1 ĐIỆN BIÊN PHỦ
ĐẠI ĐỘI TRƯỞNG LÊ VĂN DỴ: NGƯỜI ANH HÙNG “ĐÂU CÓ GIẶC LÀ TA CỨ ĐI” VÀ HUYỀN THOẠI TRÁI LỆNH TRÊN ĐỒI C1 ĐIỆN BIÊN PHỦ
Nếu lịch sử ca khúc "Hành quân xa" của nhạc sĩ Đỗ Nhuận được xem là bản quân ca bất hủ khích lệ tinh thần hàng vạn chiến sĩ ra trận, thì ít ai biết rằng linh hồn của bài hát ấy chính là câu nói giản dị của Anh hùng, Liệt sĩ Lê Văn Dỵ: “Đời chúng ta đâu có giặc là ta cứ đi!”.
Sinh năm 1926 tại vùng đất giàu truyền thống cách mạng Mê Linh, Yên Lãng, Vĩnh Phúc (nay thuộc Hà Nội), người thanh niên đầy nhiệt huyết ấy đã sớm giác ngộ lý tưởng và trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 13 tháng 3 năm 1948. Lớn lên trong một gia đình nông dân yêu nước có 4 trên 6 người con tòng quân, Lê Văn Dỵ đã sớm mang trong mình dòng máu kiên cường, sẵn sàng hiến dâng cả tuổi thanh xuân cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Từ trận đánh tiêu diệt đồn Cầu Đuống mở màn ngày Toàn quốc kháng chiến năm 1946 cho đến những chiến trường khốc liệt trải dài khắp Cao - Bắc - Lạng, Tây Bắc và đồng bằng Bắc Bộ, ông đã chứng minh nhãn quan chiến thuật sắc bén và lòng quả cảm phi thường của một người chỉ huy dạn dày sương gió, một biểu tượng sáng ngời của tinh thần tiến công liên tục và quyết chiến quyết thắng.
Trong những năm tháng gian khổ của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tên tuổi của Lê Văn Dỵ gắn liền với những trận đánh giáp lá cà vô cùng oanh liệt, làm khiếp đảm quân thù. Đêm ngày 14 tháng 8 năm 1949, trên cương vị Trung đội trưởng thuộc Trung đoàn 72 Bắc Kạn, ông đã chỉ huy trung đội xung kích đánh thẳng vào giữa sân bay Bằng Khẩu, nơi tập trung hơn 1.000 quân Âu - Phi và hàng chục xe cam-nhông. Cá nhân ông trực tiếp diệt 7 tên địch, góp phần cùng tiểu đoàn xóa sổ 110 tên Pháp, giải phóng hoàn toàn tỉnh Bắc Kạn và vinh dự được Đại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp gắn Huân chương Chiến công hạng Nhì lên ngực áo.
Bước sang Chiến dịch Biên giới năm 1950, trên cương vị Đại đội trưởng thuộc Trung đoàn 174, ông lại lập công đầu khi chỉ huy đơn vị tiêu diệt gọn đồn Bình Liêu núi ở độ cao 1.000m trong đêm tối mịt mùng. Tiếp đó, vào năm 1951 và 1952, bằng sự mưu trí và táo bạo, ông liên tục chỉ huy đánh chiếm các đồn Giông Khế, Lán Tháp tại Quảng Ninh, bẻ gãy các đợt phản kích của địch; phục kích tiêu diệt gọn một đại đội Âu - Phi giữa ban ngày tại Nghiêm Xá (Bắc Ninh) và trực tiếp tiêu diệt tên Quan ba đồn trưởng ác ôn trong trận Vân Độ (Hải Dương). Cuối năm 1953, ông chỉ huy Đại đội 811 dẹp tan cụm phỉ ở Sơn La, giải phóng hoàn toàn tỉnh lỵ này, mở toang cánh cửa cho đại quân tiến lên Tây Bắc chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng.
Đỉnh cao vinh quang và tài thao lược của Đại đội trưởng Lê Văn Dỵ được thể hiện trọn vẹn nhất tại cứ điểm C1 trong Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954. Khi Đại đội 811 của ông được điều lên thay thế đơn vị bạn đã tổn thất sau nhiều ngày đêm giành giật, tương quan lực lượng là vô cùng bất lợi: ta chỉ giữ 1/3 quả đồi ở thế thấp, còn địch chiếm 2/3 ở trên cao với hỏa lực hiện đại và súng phun lửa tàn khốc. Trước tình thế giằng co nghẹt thở, ông đã đưa ra một quyết định mang tính lịch sử: cho bộ đội đào một đường hào ngầm dài hơn 20m xuyên thẳng từ trận địa ta tới sát lô cốt Cột Cờ - cơ quan đầu não của địch trên đỉnh C1.
Đặc biệt, vào chiều ngày 30 tháng 4 năm 1954, khi nhận lệnh từ Trung đoàn trưởng Vũ Lăng yêu cầu lùi đại bộ phận lực lượng xuống chân đồi 200m để tránh pháo ta bắn chế áp, Lê Văn Dỵ đã có một quyết định táo bạo, "trái lệnh" cấp trên vì nhận thấy nếu rút xa sẽ lỡ mất thời cơ xung phong và làm mồi cho pháo địch bắn chặn. Ông giữ nguyên đại bộ phận lực lượng ở lại công sự kiên cố cách địch chỉ 20m. Ngay khi tiếng pháo ta vừa dứt, ông hô vang khẩu lệnh và dẫn đầu đơn vị xông lên đánh giáp lá cà, làm quân Pháp bất ngờ không kịp trở tay. Chỉ sau 5 phút, Tiểu đội Dao nhọn từ đường hào ngầm đã cắm được cờ chiến thắng lên lô cốt Cột Cờ, và sau 45 phút, ta làm chủ hoàn toàn cứ điểm C1, lập nên một trong những chiến công oanh liệt nhất chiến dịch, giúp bảo toàn xương máu cho biết bao chiến sĩ.
Bên cạnh tài năng chỉ huy thiên bẩm, Anh hùng Lê Văn Dỵ còn là hiện thân của một nhân cách lớn, đức tính khiêm nhường, luôn đặt lợi ích của tập thể và Tổ quốc lên trên hết. Kết thúc chiến dịch giải phóng Sơn La, dù lập công đặc biệt xuất sắc nhưng ông đã chủ động từ chối nhận Huân chương Chiến công hạng Ba vì tự thấy mình chưa xứng đáng bằng các đồng đội khác.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng, khi hòa bình đã lập lại trên miền Bắc, người chiến sĩ ấy không chọn cho mình một chốn nghỉ ngơi an nhàn mà lại tiếp tục viết "Quyết tâm thư" bằng máu vào ngày 22 tháng 3 năm 1966 để bày tỏ lòng trung thành tuyệt đối với Đảng và nguyện ước được ra tiền tuyến. Ông tình nguyện hành quân sang chiến trường Lào, cống hiến trọn vẹn 10 năm liên tục thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả. Và rồi, vào ngày 13 tháng 3 năm 1970, đúng 22 năm ngày ông chính thức đứng trong hàng ngũ của Đảng, người Đại đội trưởng anh hùng ấy đã trút hơi thở cuối cùng, anh dũng hy sinh tại mặt trận Cánh Đồng Chum – Xiêng Khoảng khi đang trực tiếp chỉ huy chiến đấu.
Ông ngã xuống ở tuổi 44, để lại một huyền thoại bất tử về lòng quả cảm, sống trọn vẹn và kiêu hãnh đúng như câu nói đã trở thành lẽ sống của cuộc đời mình: “Đâu có giặc là ta cứ đi”.



