Đại hội III của Đảng – Khát vọng hòa bình và thống nhất non sông
Đầu những năm 1960, đất nước Việt Nam đứng trước một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt. Sau Hiệp định Genève năm 1954, miền Bắc đã hoàn toàn giải phóng và bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong khi đó, miền Nam vẫn nằm dưới ách thống trị của chính quyền Sài Gòn được Mỹ hậu thuẫn.
Theo Hiệp định Genève, sau hai năm sẽ tiến hành tổng tuyển cử để thống nhất đất nước. Nhưng đế quốc Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm đã từ chối thực hiện điều khoản ấy. Việt Nam tiếp tục bị chia cắt hai miền.
Ở miền Nam, chính quyền Sài Gòn tiến hành nhiều chiến dịch đàn áp phong trào cách mạng. Hàng vạn cán bộ, đảng viên và người yêu nước bị bắt bớ, tra tấn hoặc sát hại. Luật 10/59 cùng những chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” khiến cuộc sống của nhân dân miền Nam vô cùng đau thương.
Trong khi đó, miền Bắc vừa khôi phục kinh tế sau chiến tranh vừa bắt tay vào xây dựng xã hội mới. Nhà máy, công trường, hợp tác xã được hình thành trên khắp miền Bắc. Tuy nhiên, nhiệm vụ lớn lao nhất của dân tộc Việt Nam lúc ấy vẫn là thống nhất đất nước.
Trước tình hình đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng được triệu tập.
Từ ngày 5 đến ngày 10 tháng 9 năm 1960, Đại hội III họp tại Hà Nội với sự tham dự của hàng trăm đại biểu đại diện cho toàn Đảng và nhân dân cả nước.
Đây là đại hội đầu tiên của Đảng được tổ chức tại Thủ đô Hà Nội sau ngày giải phóng. Không khí đại hội diễn ra trong niềm tự hào nhưng cũng đầy trăn trở về vận mệnh dân tộc khi đất nước còn chia cắt.
Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự và chủ trì nhiều hoạt động quan trọng của đại hội. Cùng với Người là các đồng chí lãnh đạo chủ chốt như Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp.
Đại hội đã tổng kết quá trình đấu tranh cách mạng của dân tộc, đồng thời đề ra đường lối chiến lược cho giai đoạn mới.
Một trong những nội dung quan trọng nhất của Đại hội III là xác định nhiệm vụ chung của cách mạng Việt Nam:
“Thực hiện hòa bình thống nhất Tổ quốc.”
Đó không chỉ là mục tiêu chính trị mà còn là khát vọng cháy bỏng của hàng triệu người dân Việt Nam sau nhiều năm chiến tranh và chia cắt.
Đại hội khẳng định miền Bắc có vai trò là hậu phương lớn của cả nước, phải tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội để tạo cơ sở vững chắc cho sự nghiệp thống nhất dân tộc.
Trong khi đó, cách mạng miền Nam có nhiệm vụ đấu tranh chống đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn nhằm giải phóng miền Nam, bảo vệ lực lượng cách mạng và tiến tới thống nhất nước nhà.
Đại hội III xác định rõ:
Cách mạng hai miền có quan hệ mật thiết với nhau, cùng hướng tới mục tiêu chung là độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc.
Đường lối ấy đã trở thành kim chỉ nam cho cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong suốt những năm chống Mỹ cứu nước.
Tại đại hội, Lê Duẩn được bầu làm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đại hội cũng bầu ra Ban Chấp hành Trung ương mới để lãnh đạo đất nước trong giai đoạn đầy thử thách phía trước.
Một trong những hình ảnh xúc động nhất của đại hội là tình cảm sâu nặng dành cho đồng bào miền Nam. Nhiều đại biểu nhắc đến những mất mát, hy sinh của nhân dân miền Nam đang ngày đêm đấu tranh trong bom đạn và nhà tù của chính quyền Sài Gòn.
Khẩu hiệu:
“Tất cả vì miền Nam ruột thịt”
dần trở thành tiếng gọi thiêng liêng trên khắp miền Bắc.
Sau Đại hội III, miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng và phát triển mạnh mẽ hơn. Những nhà máy mới được dựng lên, những phong trào thi đua lao động sản xuất lan rộng khắp nơi. Đồng thời, miền Bắc cũng tăng cường chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.
Trong khi đó, phong trào đấu tranh cách mạng ở miền Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ, mở đầu bằng phong trào Đồng khởi và sau đó tiến tới những cuộc chiến đấu quyết liệt chống Mỹ.
Đại hội III của Đảng năm 1960 có ý nghĩa lịch sử đặc biệt quan trọng.
Đó là đại hội của ý chí thống nhất non sông, của niềm tin vào thắng lợi cuối cùng của dân tộc Việt Nam. Những quyết định được đưa ra tại đại hội đã định hướng cho cả nước trong suốt chặng đường chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ nhưng hào hùng.
Từ hội trường Ba Đình mùa thu năm ấy, khát vọng hòa bình và thống nhất đất nước tiếp tục được thắp sáng, để rồi mười lăm năm sau trở thành hiện thực trong mùa xuân đại thắng năm 1975.


