ĐẠI NGÀN TRONG THỜI HOA LỬA: BOK NÚP VÀ TƯỢNG ĐÀI BẤT KHUẤT CỦA DÂN TỘC BA NA
Anh hùng Đinh Núp (sinh ngày 2 tháng 5 năm 1914, mất ngày 10 tháng 7 năm 1999; tên thường gọi: Bok Núp, Anh hùng Núp, tên gọi khác: Sar). Ông là người dân tộc Ba Na, sinh ra và lớn lên tại làng Stơr, xã Tơ Tung, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai. Ông đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và trao tặng Huy hiệu Hồ Chí Minh. Lúc sinh thời, bên cạnh quá trình chiến đấu kiên cường tại chiến trường Tây Nguyên và sinh sống ở thành phố Pleiku, ông từng giữ nhiều trọng trách quan trọng như Đại biểu Quốc hội khóa VI, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa VI (1976–1981) và Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Gia Lai - Kon Tum.

Dấu ấn "Thời Hoa Lửa" và lời vẫy gọi từ núi rừng Kbang
Trong dòng chảy lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của đất nước Việt Nam, vùng đất Tây Nguyên hùng vĩ luôn hiện lên như một trường ca bất tận về lòng yêu nước và ý chí quật cường. Nơi rừng già Kbang bạt ngàn, giữa tiếng cồng chiêng vang vọng qua bao thế hệ, tên tuổi của Anh hùng Đinh Núp (thường được đồng bào gọi bằng cái tên kính trọng: Bok Núp) đã trở thành tượng đài sống động, một biểu tượng bất tử cho tinh thần "Thời Hoa Lửa" của người dân đại ngàn.
Tìm về làng Stơr (xã Tơ Tung, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai) – nơi chôn nhau cắt rốn của Bok Núp, thế hệ trẻ hôm nay không chỉ được chứng kiến sự đổi thay của buôn làng mà còn được sống lại những năm tháng kháng chiến gian khổ nhưng rực rỡ chiến công. Cuộc đời chiến đấu từ cây cung nỏ thô sơ đến những chiến thuật du kích tài tình của Đinh Núp đã chứng minh một chân lý sâu sắc: khi lòng yêu nước được thắp lên và cộng đồng đoàn kết một lòng, không một sức mạnh bạo tàn nào có thể khuất phục.
Mũi tên làng Stơr năm 1935 – Đập tan huyền thoại lính Pháp "không chảy máu"
Đinh Núp sinh ngày 2 tháng 5 năm 1914 tại Đe Dong, xã Nam, huyện An Khê (nay là làng Stơr, xã Tơ Tung, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai), trong một gia đình người dân tộc Ba Na. Mồ côi cha từ năm 15 tuổi, từ thời niên thiếu, chàng thanh niên Núp đã phải chứng kiến cảnh quân Pháp cướp bóc, cưỡng bức dân làng đi phu gian khổ, đẩy buôn làng vào cảnh lầm than.
Lúc bấy giờ, trước sức mạnh quân sự của thực dân Pháp, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên chỉ biết né tránh hoặc bất hợp tác. Trong nhận thức cổ truyền của người dân buôn làng thời kỳ đó, kẻ thù xâm lược là một lực lượng vô cùng đáng sợ. Người Ba Na truyền tai nhau rằng: "Bọn này có xe, có máy bay, có súng nhỏ, súng lớn; trên trời nó cũng đi được, dưới nước nó cũng đi được, đánh trúng nó, nó không có máu". Chính tư tưởng ấy đã gieo rắc sự sợ hãi, khiến người dân không dám đứng lên cầm vũ khí chống lại.
Năm 1935, trong một lần quân Pháp kéo về làng Stơr bắt phu, dân làng sợ hãi lánh hết vào rừng sâu. Căm phẫn trước sự tàn bạo của giặc, Đinh Núp quyết định ở lại một mình, phục kích sau lùm cây. Khi toán lính Pháp tiến vào, anh giương cây nỏ thân thuộc, bật dây cung. Mũi tên xé gió cắm thẳng vào lính Pháp khiến hắn ngã xuống và chảy máu.
Hành động dũng cảm ấy đã làm thay đổi hoàn toàn cục diện nhận thức của người Ba Na. Đinh Núp chạy vào rừng tuyên truyền và chứng minh cho buôn làng thấy một sự thật đơn giản nhưng có ý nghĩa bản lề: lính Pháp cũng là người, cũng bị thương, cũng chảy máu và hoàn toàn có thể bị đánh bại. Mũi tên bắn Pháp chảy máu năm 1935 chính là phát súng lệnh khơi dậy niềm tin, làm bùng cháy ngọn lửa kháng chiến trong lòng đồng bào Ba Na và Ê Đê.
Làng kháng chiến Stơr – Bão thép chông tre và 9 lần dời làng vượt qua càn quét
Sau khi tham gia Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giành chính quyền tại địa phương, Đinh Núp bắt tay vào việc vận động đồng bào dân tộc xây dựng các tổ du kích, sáng tạo nên mô hình "làng kháng chiến" Stơr nổi tiếng.
Trong giai đoạn từ năm 1950 đến 1951, thực dân Pháp đã huy động lực lượng mở 10 cuộc hành quân càn quét quy mô lớn hòng đốt làng, phá rẫy, cướp lúa nhằm tiêu diệt căn cứ Stơr. Dưới sự lãnh đạo của Chi bộ Đảng và sự chỉ huy mưu trí của Thôn đội trưởng Đinh Núp, dân quân du kích làng Stơr đã biến địa hình núi rừng hiểm trở thành trận địa du kích bí mật. Không có súng đạn hiện đại, dân làng sáng tạo và sử dụng các loại vũ khí thô sơ nhưng vô cùng hiệu quả như chông tre, bẫy đá, hầm chông và cung tên thuốc độc để tiêu hao sinh lực địch.
Để bảo toàn lực lượng và kiên trì bám trụ chiến đấu, dân làng Stơr dưới sự dẫn dắt của Đinh Núp đã phải 9 lần dời làng sâu hơn vào núi rừng. Đó là những ngày tháng thử thách khốc liệt nhất của "Thời Hoa Lửa": buôn làng đứt hoàn toàn nguồn muối ăn, thiếu thốn lương thực, phải đào củ mài, ăn tro tranh và rau rừng thay cơm.
Dù đối mặt với đói lạt và hiểm nguy rình rập, tinh thần bất khuất của dân làng Stơr vẫn không một chút lay chuyển. Tinh thần thép ấy được đúc kết trọn vẹn trong câu trả lời đanh thép của Đinh Núp năm 1951 trước Đoàn nghiên cứu của Liên khu V: "Nếu có đánh chết, còn một người cũng chống lại. Nếu chẳng may địch bắt được một vài người, làng không thèm chuộc lại như trước kia... Chết thôi! Không hàng!".
Gương chiến đấu kiên cường của làng Stơr và Thôn đội trưởng Núp đã tạo sức ảnh hưởng lan rộng khắp Tây Nguyên, trở thành ngọn cờ đầu trong phong trào xây dựng làng kháng chiến chống Pháp. Với những chiến công xuất sắc, ngày 31 tháng 8 năm 1955, Đinh Núp vinh dự được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba. Ông trở thành người con của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên đầu tiên nhận danh hiệu cao quý này, đồng thời được Bác Hồ tặng một chiếc áo lụa và huy hiệu của Người.
Từ "Đất nước đứng lên" đến tình bạn kết nghĩa lịch sử với Chủ tịch Fidel Castro
Sau Hiệp định Genève năm 1954, Đinh Núp cùng đơn vị tập kết ra miền Bắc. Cuộc đời và phong trào kháng chiến anh dũng của ông cùng dân làng Stơr đã trở thành nguyên mẫu cho nhà văn Nguyên Ngọc sáng tác cuốn tiểu thuyết nổi tiếng "Đất nước đứng lên" (1955). Tác phẩm không chỉ đoạt giải thưởng văn học lớn trong nước mà còn được dịch ra nhiều ngôn ngữ trên thế giới, đưa tên tuổi Anh hùng Núp vượt ra khỏi biên giới Việt Nam.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Khi tác phẩm "Đất nước đứng lên" được dịch sang tiếng Tây Ban Nha và phát hành tại Cuba, Chủ tịch Fidel Castro đã đọc và vô cùng xúc động trước tinh thần đấu tranh của người anh hùng Tây Nguyên. Năm 1964, Nhà nước Cuba đã trân trọng mời Anh hùng Núp sang thăm hòn đảo tự do.
Tại đất nước Cuba, Anh hùng Núp đã gặp gỡ nhà lãnh đạo cách mạng Che Guevara và có cuộc hội ngộ lịch sử với Chủ tịch Fidel Castro. Trước sự cảm phục và mến mộ dành cho vị chiến sĩ du kích Ba Na, Chủ tịch Fidel Castro (nhỏ hơn Đinh Núp 12 tuổi) đã chủ động kết tình huynh đệ, nhận Bok Núp làm anh kết nghĩa. Chuyến thăm năm 1964 cùng cái ôm thắm thiết giữa hai người anh hùng ở hai đầu địa cầu đã trở thành một dấu ấn ngoại giao nhân dân đặc biệt, đơm hoa cho tình đoàn kết hữu nghị sắt sắt giữa hai dân tộc Việt Nam và Cuba.
Trở lại chiến trường Khu 10 và ngọn lửa đại đoàn kết thời bình
Năm 1963, Đinh Núp trở lại miền Nam trực tiếp tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở chiến trường Tây Nguyên. Từ năm 1965, ông đảm nhiệm vị trí Bí thư Huyện 10 (Khu 10, tỉnh Gia Lai).
Trên cương vị lãnh đạo, Bí thư Núp đã vận động nhân dân các xã căn cứ như Krong, Kơpier, Lơpa thực hiện thi đua sản xuất, triệt để thực hành tiết kiệm lương thực nuôi bộ đội với phương châm: "Một gùi mình cũng cho, một nắm mình cũng chia", "Tất cả vì sự nghiệp cách mạng, không để bộ đội đói". Ông hướng dẫn bà con khai thác củ mài, củ môn nước đúng cách để cây tiếp tục mọc, đẩy mạnh chiến dịch trồng mì chiến lược. Dưới sự chỉ đạo của ông, Huyện 10 đã đóng góp gần 150 tấn lương thực, huy động hàng trăm dân công mở đường, vận chuyển vũ khí ra tiền tuyến.
Bok Núp còn nổi tiếng là một cán bộ có nghệ thuật dân vận tài tình, luôn biết cách nói chuyện "trúng lỗ tai" đồng bào. Trong những năm chống Mỹ, khi du kích làng Đe Tăng Chà (Kon Tăngcha) tranh cãi gay gắt về thế phát triển của cách mạng, Bok Núp đã xuống tận nhà rông, giương cây ná lên và giải thích bằng tiếng Ba Na: "Tình hình cách mạng mình có cả lên dông, có cả xuống hố, vì cách mạng giống như cây ná, mũi tên. Thằng Mỹ - Thiệu ở trên dông, mũi tên cách mạng bay lên dông. Còn nếu thằng Mỹ - Thiệu ở dưới hố, thì mũi tên cách mạng bay xuống hố...". Lời giải thích dã dã, hóm hỉnh ấy đã làm cả nhà rông vỗ tay thán phục, củng cố niềm tin tuyệt đối vào sự thắng lợi của cách mạng.
Sau ngày đất nước thống nhất năm 1975, Anh hùng Núp đảm nhiệm nhiều trọng trách quan trọng: Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Cách mạng tỉnh Gia Lai, Đại biểu Quốc hội khóa VI, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Gia Lai - Kon Tum.
Trong thời kỳ hòa bình, ông dồn toàn bộ tâm huyết vào nhiệm vụ vận động đồng bào định canh, định cư. Người Ba Na vốn có tập quán lâu đời ở trên núi cao, rất ngại dời xuống thung lũng. Bok Núp đã kiên trì đến từng làng, ngồi bên bếp lửa giải thích cho các già làng: "Ông bà mình xưa cũng muốn xuống bằng ở chứ. Nhưng còn thằng Pháp đó... mới phải vô rừng sâu, lên núi cao ở để trốn... Còn bây giờ, Pháp đi rồi, Mỹ cũng đi rồi, đất nước mình là của mình, mình xuống bằng ở... làm ruộng nước ra nhiều lúa hơn làm rẫy, rồi các làng ở gần nhau, các già làng muốn đi thăm nhau... khỏi phải đi xa, trèo cao mỏi cái chân". Lời nói thấu tình đạt lý của Bok Núp đã làm các già làng "ưng cái bụng", đưa hàng nghìn hộ dân tự nguyện xuống núi quy hoạch lại làng mạc, xây dựng cuộc sống mới no ấm.
Di sản bất tử của Bok Núp

Ngày 10 tháng 7 năm 1999, Anh hùng Đinh Núp trút hơi thở cuối cùng tại Gia Lai, hưởng thọ 85 tuổi. Ông ra đi nhưng di sản cách mạng và tinh thần quật cường của ông vẫn sống mãi giữa đại ngàn Tây Nguyên. Tên của ông được trân trọng đặt cho nhiều tuyến đường phố lớn tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Pleiku và nhiều trường học trên cả nước.
Tại làng Stơr (xã Tơ Tung, huyện Kbang), Nhà lưu niệm Anh hùng Núp được xây dựng và khánh thành vào ngày 6 tháng 5 năm 2011, hiện đang lưu giữ hơn 400 hiện vật, tư liệu, hình ảnh quý giá về cuộc đời ông và văn hóa đồng bào Ba Na. Nơi đây đã trở thành một địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống yêu nước, thu hút hàng nghìn lượt du khách đến thăm quan và tưởng niệm mỗi năm.


