ĐẠI TÁ AHLLVTND, NHÀ TÌNH BÁO PHẠM NGỌC THẢO
Trong lịch sử Tình báo quốc phòng Việt Nam, nhiều anh hùng, liệt sĩ đã thầm lặng chiến đấu, cống hiến đến hơi thở cuối cùng cho cách mạng và tên tuổi, sự nghiệp của họ chỉ được hé lộ nhiều năm sau khi ngã xuống. Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Đại tá Phạm Ngọc Thảo là một trong những con người ưu tú đó.
Bản thân tôi nhận thức sâu sắc vinh dự và trách nhiệm khi được nghiên cứu, tiếp cận những tư liệu quý báu về cuộc đời, sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Liệt sỹ, Nhà tình báo Phạm Ngọc Thảo – người chiến sĩ cách mạng kiên trung, suốt đời cống hiến cho sự nghiệp độc lập, tự do của dân tộc. Đặc biệt, việc được trực tiếp tham gia thực hiện Dự án Nhà tưởng niệm đồng chí tại khuôn viên Bảo tàng tỉnh Bến Tre trước đây (nay thuộc tỉnh Vĩnh Long) không chỉ là niềm vinh dự lớn lao, mà còn là trách nhiệm chính trị sâu sắc trong việc gìn giữ, tôn vinh và phát huy giá trị lịch sử, truyền thống cách mạng, góp phần giáo dục lý tưởng, bồi đắp niềm tin và lòng tự hào cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
Đại tá, AHLLVTND, Nhà tình báo Phạm Ngọc Thảo (14/02/1922 – 17/7/1965) bí danh Lê Minh, Chín Thảo sinh ra tại Mỹ Phước, Long Xuyên, tỉnh An Giang. Ông xuất thân trong một gia đình điền chủ, theo đạo Công giáo, quốc tịch Pháp, nên còn có tên Albert Phạm Ngọc Thảo.
Năm 1942, Ông tốt nghiệp kỹ sư ngành công chánh tại trường Đại học Hà Nội.
- Cách mạng Tháng 8 năm 1945 bùng nổ, ông tham gia cướp chính quyền ở Sài Gòn, sau đó gia nhập Vệ quốc đoàn, rồi trở thành cán bộ chỉ huy quân đội, hoạt động ở miền Tây Nam Bộ.
- Năm 1946, ông làm việc tại văn phòng Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ.
- Ông được kết nạp Đảng vào tháng 5 năm 1947.
- Đến khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp (7 - 1954), Ông là cán bộ cấp trung đoàn chỉ huy khoảng 1.000 đến 3.200 người. Được cử đi học khóa đầu tiên tại Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn (tỉnh Sơn Tây) và giao nhiệm vụ bảo vệ đồng chí Lê Duẩn vào Nam. (từ Phú Yên vào Nam).
Năm 1947, ông được giao làm Trưởng phòng mật vụ Nam Bộ (cơ quan tình báo của ta)Riêng Phòng mật vụ có trách nhiệm nắm tình hình địch về chiến lược, chiến thuật cũng như mạng lưới các đồn bót địch ở các đô thị Nam Bộ.Với trách nhiệm này, ông đã triển khai đề án mở một lớp huấn luyện tình báo cho các tỉnh. Địa điểm mở lớp huấn luyện là tại Vườn Thơm – Miếu Ông Lão thuộc huyện Bình Chánh (thành phố Hồ Chí Minh hiện nay).. Trong một thời gian ngắn ông đã thống nhất được ngành tình báo toàn Nam Bộ và đã xây dựng một hệ thống Ban tình báo các khu 7, khu 8, khu 9. Ông cũng đã tìm được cách moi tin tức từ các cơ quan nghiên cứu của Pháp qua cài người vào hàng ngũ địch, nghe đài, đọc báo chí mật của Phòng tham mưu quân đội viễn chinh Pháp. Lợi dụng sự bất mãn của một số sĩ quan không đủ điểm, không được nâng lon ở trường Võ bị của Pháp ở Đà Lạt để thu thập tin tức.
Năm 1949, ông là Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn 410 chủ lực khu 9.
Sau hiệp định Geneve năm 1954, nhận được chỉ thị của đồng chí Lê Duẩn - Bí thư xứ ủy Nam Bộ, Phạm Ngọc Thảo ở lại miền Nam, được giao nhiệm vụ vào hoạt động ngay trong lòng địch. Dựa vào thế lực gia đình trí thức, Thiên chúa giáo thân cận với Ngô Đình Diệm Tháng 12/1954, ông được đồng hóa vào bộ máy Ngụy quyền Sài Gòn.
Đại tá Hà Ngọc Huỳnh, nguyên viện trưởng Viện 501, Tổng cục II, Bộ quốc phòng, cho biết: “Tình báo thế giới nói chung có 2 chức năng: Tin tức và hành động. Tình báo hành động thể hiện ở những hoạt động chia rẽ, gây rối nội bộ địch, làm cho nội bộ địch không ổn định; gây khó khăn cho địch để chúng không thực hiện được ý đồ, kế hoạch đã được vạch ra; bảo vệ ta; và trực tiếp đánh địch. Phạm Ngọc Thảo là một trong số ít cán bộ chỉ thực hiện nhiệm vụ hành động chủ yếu”.
Đại tá Đào An Việt, Phó chủ nhiệm Chính trị Tổng cục II – Bộ Quốc phòng, nhấn mạnh: “Điều đặc biệt của đồng chí Phạm Ngọc Thảo là đồng chí thực hiện nhiệm vụ chui sâu, leo cao, gây rối chính quyền ngụy chứ không phải là nhiệm vụ thu thập tin tức. Điều đặc biệt thứ hai nữa là đồng chí hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Lê Duẩn chứ không thông qua tổ chức và cơ quan tình báo. Thứ ba là đồng chí độc lập tác chiến, một mình hoạt động trong lòng địch”.
Sau khi nhận nhiệm vụ, Phạm Ngọc Thảo dựa vào thế lực của gia đình trí thức, theo Thiên Chúa giáo, thân cận với gia đình họ Ngô để dễ bề hoạt động. Kể từ đó, Phạm Ngọc Thảo chính thức trở thành nhà tình báo hành động chiến lược đặc biệt quan trọng của cách mạng Việt Nam.
Năm 1956, ông làm việc ở Ngân hàng quốc gia Sài Gòn do Huỳnh Văn Lang nắm giữ. Dịp này Huỳnh Văn Lang cũng cho xuất bản tờ tạp chí Bách Khoa do ông Lang đứng tên chủ nhiệm và Phạm Ngọc Thảo phụ trách phần bài viết về các vấn đề chính trị và quân sự. Qua những bài viết của mình, ông đã nói được đầy đủ quan điểm của một người yêu nước, thương dân. Không có vấn đề nào ông không đề cập đến. Từ những vấn đề chính trị, quân sự, xã hội đến lịch sử và tâm lý con người. Chỉ năm bài đầu tiên, ông đã giành được sự quan tâm và tình cảm của bạn đọc. Đây không phải cây bút bình thường mà là một cây bút có chính kiến rõ ràng cùng với lối lập luận uyên bác, một trí thức trác việt. Những nhà quân sự, những nhà trí thức trân trọng những bài viết của ông - một người dân Tây, gia đình công giáo mà nghiên cứu cả đến binh thư Tôn Tử, thật hiếm có.
Từ đó, ông được đặc cách chuyển qua ngạch quân đội với cấp bậc Đại úy trong quân lực Việt Nam cộng hòa. giữ chức Tỉnh trưởng Bảo an Vĩnh Long.
Năm 1957, ông về làm Tỉnh đoàn Trưởng bảo an tỉnh Vĩnh Long, Bình Dương.
Năm 1959, nhận thấy Phạm Ngọc Thảo có những hiểu biết sâu sắc về vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội nên Ngô Đình Nhu đưa ông vào làm việc tại Sở Nghiên cứu chính trị và xã hội (thực chất là cơ quan mật vụ). được thăng cấp thiếu tá, phục vụ tại phủ Tổng Thống Việt Nam cộng hòa chính quyền Sài Gòn. Đây là cơ quan mật vụ do bác sĩ Trần Kim Tuyến phụ trách.
Tháng 11/1960 đến tháng 5/1962, ông về làm Tỉnh trưởng tỉnh Kiến Hòa (tỉnh Bến Tre) với cấp hàm Trung tá.
Trước khi nhận nhiệm vụ tại Kiến Hòa, ông đã đưa ra 3 điều kiện: Một là ổn định tình hình tỉnh Kiến Hòa không phải bằng bạo lực mà là chính trị và tâm lý chiến. Vì ông không thể hành động như những quân nhân võ biền khác. Mục đích của ông không phải là đàn áp phong trào đấu tranh của Kiến Hòa đang lên cao độ. Hai là nếu bắt được Việt cộng, có đủ bằng chứng, cho lập phiên tòa xét xử. Với yêu cầu này, ông sẽ có cớ để trừng trị bọn đầu hàng, chỉ điểm. Ba là Tỉnh trưởng Kiến Hòa được đặt cách chỉ báo cáo với Tổng thống, không qua một ban, bộ nào. Như vậy, ông sẽ tránh được những gièm pha, ton hót,... Điều này đã minh chứng sự thông minh của ông nhằm qua mắt các tướng lĩnh cao cấp và làm phân hóa bộ máy chính quyền Ngô Đình Diệm. Mặt khác, tận dụng những điều kiện này để ông có điều kiện hợp pháp trong việc thủ tiêu những kẻ chiêu hồi, chỉ điểm, phản cách mạng
Những năm làm Tỉnh trưởng, với bình phong bất lợi, bị chúng nghi ngờ theo dõi nhưng Phạm Ngọc Thảo rất mưu trí sáng tạo cung cấp được nhiều tin tức, tài liệu liên quan đến các cuộc hành quân trong tỉnh và quân khu, đã ngăn chặn và hạn chế thiệt hại của các cuộc hành quân qui mô trong toàn tỉnh Bến Tre. Lợi dụng chức vụ Tỉnh trưởng, ông đã đẩy được một Trung đoàn của sư 7 bộ binh, 5 tiểu đoàn biệt động (chúng đưa về đàn áp du kích ở Bến Tre) ra khỏi tỉnh với lý do là tỉnh Bến Tre đang xây dựng điểm về “chính sách thân dân của tổng thống”.
Khi có hành quân ở khu vực nào, Phạm Ngọc Thảo với cương vị tỉnh trưởng ra lệnh cho thông báo bằng loa để dân tản cư trước, không cho bắn pháo, ném bom vào nơi đông dân cư.
Ông đã cho thả hơn 2.000 tù chính trị trong đó có nhiều cán bộ, đảng viên chủ chốt của cách mạng ta. Trong đó có ông Võ Viết Thanh (được trả tự do vào ngày 7/7/1961, sau này là Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Chủ tịch UBND TP.HCM) cùng nhiều người khác hiện đang sinh sống tại Bến Tre, Tp. Hồ Chí Minh.
Tháng 3/1964, ông là phát ngôn viên của Chính phủ Chính quyền Sài Gòn.
Nhờ có hệ thống rộng, thân cận nhiều nhân vật Mỹ quan trọng, nhiều tướng tá cán bộ cao cấp ngụy và với cương vị mới, Phạm Ngọc Thảo đã chủ động đề xướng, thúc đẩy nhiều cuộc đảo chính, chỉnh lý nội bộ tạo nên những bất đồng, mâu thuẫn, nghi kỵ, triệt hạ lẫn nhau trong nội bộ ngụy.
Trong giai đoạn 1963-1965, diễn ra 02 cuộc đảo chính mang dấu ấn Phạm Ngọc Thảo:
1. Cuộc đảo chính ngày 01/11/1963 Lực lượng đảo chính gồm: trung tá Phạm Ngọc Thảo và Trần Kim Tuyến và Tôn Thất Đính, Huỳnh Văn Lang.Với sự nhạy bén về chính trị, Phạm Ngọc Thảo biết chắc Mỹ sẽ lật đổ gia đình họ Ngô để dựng lên một chính quyền nguy hiểm hơn. Ông đã cùng Trần Kim Tuyến và Huỳnh Văn Lang lên một kế hoạch đảo chính với mục tiêu “cải sửa” chế độ nhằm vô hiệu hóa ý đồ của người Mỹ. Tuy nhiên kế hoạch bị lộ, Trần Kim Tuyến bị đưa đi làm lãnh sự ở Ai Cập. Về phần Phạm Ngọc Thảo, Ngô Đình Nhu không tin ông tham gia kế hoạch này.
2. Cuộc đảo chính ngày 19/2/1965 nhằm loại bỏ Nguyên Khánh
Ở cuộc đảo chính lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm, ngày 1-11-1963, dù không chủ động tham gia nhưng Phạm Ngọc Thảo vẫn được “Hội đồng quân nhân cách mạng” do tướng Dương Văn Minh cầm đầu cử làm tùy viên báo chí. Sau đó, khi Nguyễn Khánh lên thâu tóm quyền lực đã cử ông làm giám đốc báo chí, phát ngôn viên chính phủ. Thời gian này Phạm Ngọc Thảo đã được thăng quân hàm Đại tá. Đầu tháng 10-1964, ông được đưa sang Mỹ làm Tùy viên văn hóa quân sự, ông đưa cả vợ con theo cùng.
Vừa sang Mỹ một thời gian ngắn, Phạm Ngọc Thảo bị Nguyễn Khánh triệu hồi về nước do nghi ngờ ông và sẽ bố trí bắt ông ngay tại sân bay Tân Sơn Nhất. Biết trước ý đồ đó, Phạm Ngọc Thảo đã khôn khéo không về đúng giờ bay như dự định nên không bị bắt. Về Sài Gòn, ông bí mật móc nối, tổ chức lực lượng, kéo tướng Lâm Văn Phát và hàng chục sĩ quan khác tiến hành cuộc đảo chính ngày 19-2-1965. Cuộc binh biến này do Lâm Văn Phát cầm đầu về danh nghĩa, nhưng trên thực tế là do Đại tá Phạm Ngọc Thảo tổ chức và chỉ huy. Chỉ trong một ngày, lực lượng đảo chính đã chiếm Bộ tổng tham mưu, Bộ tư lệnh biệt khu Thủ đô, Đài phát thanh Sài Gòn, Bến Bạch Đằng và sân bay Tân Sơn Nhất. Tuy nhiên, do một số sơ xuất của lực lượng đảo chính, Nguyễn Khánh đã được Nguyễn Cao Kỳ - Tư lệnh Không quân lúc đó cứu thoát. Cuộc đảo chính nổ ra trưa ngày 19 tháng 02 năm 1965 ở Sài Gòn chỉ làm chủ đài phát thanh trong một thời gian ngắn nhưng mục tiêu quan trọng hàng đầu là bắt sống Nguyễn Khánh đã không thực hiện được cho nên trong tờ Việt Tiến (in ronéo, phát bí mật) với bút hiệu Lê Minh, đại tá Phạm Ngọc Thảo đã viết: “Chúng tôi vì không muốn đổ máu mà hơn nữa ngay từ phút đầu đã thấy có sự chia rẽ và tranh giành nhau nên tôi đã cho lệnh chấm dứt cuộc chính biến vào lúc 20 giờ ngày 19 tháng 02 và coi như 20 giờ làm chủ thủ đô đã chấm dứt”.
Trước khi rút lui vào bóng tối, đại tá Phạm Ngọc Thảo còn can đảm dẫn đoàn xe thiết giáp xuống đài phát thanh ở Quán Tre (Hóc Môn) để phát đi lời từ biệt các chiến hữu và đồng bào, hẹn sẽ tái ngộ trong một dịp khác thuận lợi hơn. Sau đó, Tòa án quân sự vùng III chiến thuật đã xử tử hình khiếm diện ông và treo thưởng cái giá 3 triệu đồng (một khoản tiền lớn vào thời ấy) cho ai giết chết hoặc bắt sống được ông. Cái giá trên do Nguyễn Văn Thiệu, bấy giờ là Chủ tịch ủy ban lãnh đạo quốc gia ban ra, kết tội ông là phản nghịch, gây rối loạn trị an. Mặc dù vậy, bọn chúng không dễ dàng gì thực hiện được mục đích của mình vì ông được sự bao bọc, che chở của nhiều tầng lớp quần chúng trong xã hội. Ông đã tạm lánh ở nhiều nơi: nhà thờ Huyện Sĩ, nhà nguyện Thánh An Tôn (gần cầu Ông Lãnh), nhà thờ Đa Minh (khu Tân Mai - Biên Hòa),...
Ông biết rất rõ âm mưu đưa quân viễn chinh vào miền Nam và tham vọng với cả miền Bắc của đế quốc Mỹ khi còn làm tùy viên báo chí và quân sự bên cạnh Trần Thiện Khiêm nên quyết ra tay ngăn chặn. Bản thân bị truy nã, mọi phương tiện của ông cạn kiệt, quân sĩ tan tác. Các đồng đạo khuyên ông nên lánh ra nước ngoài. Các đồng chí khuyên ông nên về chiến khu. Đại sứ quán Campuchia cũng chuyển lời của Sihanuc mời ông sang tị nạn ở Campuchia. Đại sứ quán Mỹ cũng tìm cách liên lạc với ông và hứa đưa ông ra nước ngoài nếu ông chấp nhận không trở lại Việt Nam nữa. Nhưng ông từ chối, đều có lời cám ơn và nói rằng: “Nếu có chết cũng xin chết trên đất nước Việt Nam”. Khi nhiệm vụ gây rối loạn hậu phương của ngụy để ngăn Mỹ đổ quân vào miền Nam và ném bom miền Bắc còn dang dở, người lính Phạm Ngọc Thảo quyết không rời trận địa. Noi theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông dùng kỹ năng tuyên huấn của mình để phát động cách mạng trên tờ báo Việt Tiến, được lưu hành đến 50.000 bản nhờ bộ máy in ấn, phát hành của lực lượng Công giáo yêu nước trong các xứ đạo.
Ngày 16 tháng 7 năm 1965, ông bị một toán mật vụ bắt đưa đến khu rừng gần Hố Nai (Biên Hòa) để thủ tiêu, rồi bỏ đi. Ông bị bắn vào đầu, nhưng không chết, sau đó được một linh mục đưa về cứu chữa tại một trạm cứu thương ở giáo xứ Đa Minh (Biên Hòa). Bị lực lượng an ninh quân đội ở Sài Gòn phát hiện, ông bị bắt trở lại đưa về Sài Gòn. Tại sân bay Tân Sơn Nhất, có Nguyễn Ngọc Loan, giám đốc Cảnh sát quốc gia Đô thành và nhiều tên sĩ quan an ninh quân đội đón ông. Bọn chúng chở ngay ông về an ninh quân đội Sài Gòn và bắt đầu tra khảo ông. Đại tá Đặng Như Tuyết bị bắt từ ngày đảo chính (20/02/1965) đang nằm phòng bên cạnh và có nghe phần nào cuộc hỏi cung ông. Sau này Đặng Như Tuyết có kể lại được một đoạn như sau:
An ninh quân đội hỏi đại tá Phạm Ngọc Thảo: Nếu đại tá được tự do trở lại thì đại tá sẽ làm gì?
Ông trả lời:Tôi sẽ tiếp tục sứ mạng của tôi cho tới thành công.
An ninh quân đội lại hỏi: Đại tá cho biết những ai đã giúp đại tá sống trong mấy tháng qua?
Ông trả lời: Đó là những người ơn của tôi, giúp tôi trong việc chung. Tôi không thể cho các anh biết là ai vì các anh sẽ làm hại người ta.
Đêm càng về khuya, ở phòng kế bên Đặng Như Tuyết nghe tiếng đánh đá nhiều lần và sau cùng nghe ông la thất thanh rồi im bặt luôn. Lúc đó vào khoảng 1, 2 giờ sáng ngày 17 tháng 7 năm 1965. Các nguồn tin của Sài Gòn sau đó cho biết, ông chịu một cái chết đau đớn nhất nhưng vẫn không hé môi về bất cứ một thông tin gì, thể hiện bản lĩnh của một nhà tình báo trung kiên, bất khuất, quyết hy sinh thân mình vì sự nghiệp cách mạng.
Sau khi chết, ông được chôn cất ở nghĩa trang quân đội gần sân bay Tân Sơn Nhất, không mộ bia, không được xây cất kiên cố như một nấm mộ vô danh. Vì mỗi lần đặt thánh giá ghi tên thánh và năm sinh, ngày mất của ông trước mộ đều bị an ninh quân đội lấy đi. Sau giải phóng, mộ ông được cải táng về Nghĩa trang thành phố Hồ Chí Minh, trên bia mộ ghi dòng chữ: LIỆT SĨ PHẠM NGỌC THẢO, ĐẠI TÁ QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM.
Sau ngày miền Nam giải phóng (30 - 4 - 1975) ông được Nhà nước ta truy tặng Liệt sĩ. Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam Lê Đức Anh đã ký quyết định số 557/KT/CTN tuyên dương ông danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân với quân hàm đại tá Quân đội nhân dân Việt Nam vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và được tặng nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng I, II, III; Huân chương Quân công hạng II; Huân chương Chiến thắng hạng II.
Đại tá Phạm Ngọc Thảo đã yên nghỉ giữa những người con ưu tú khác đã hy sinh cuộc đời mình cho độc lập, tự do của Tổ quốc nhưng nhiều điều bí mật về cuộc đời hoạt động tình báo của ông cho đến nay vẫn chưa được tiết lộ hết.
Ngày 29 tháng 6 năm 2015 tại Quyết định số 2243/QĐ-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận di tích cấp quốc gia “Nơi ở và hoạt động của Đại tá Phạm Ngọc Thảo” một trong những địa chỉ đỏ về giáo dục truyền thống cách mạng vô cùng ý nghĩa, là điểm du lịch thú vị, nơi lưu dấu người anh hùng, nhà tình báo chiến lược mưu trí, dũng cảm và kiên trung góp phần làm nên thắng lợi vẻ vang của công cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc.
Có thể nói sự đóng góp và hy sinh của Đại tá, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Nhà tình báo Phạm Ngọc Thảo là tấm gương sáng cho thế hệ hôm nay mai sau học tập, noi theo. Chính vì thế việc trưng bày, giới thiệu về những bí ẩn của Nhà tình báo, Đại tá Phạm Ngọc Thảo là cần thiết, qua đây giúp người xem hiểu thêm về những cống hiến, hy sinh thầm lặng của ông, như lời nhận xét của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt "Anh Phạm Ngọc Thảo đã nhận một nhiệm vụ đặc biệt, chưa từng có tiền lệ trong công tác cách mạng của chúng ta.



