Anh hùng Lực lượng vũ trang

Đại tá, Anh hùng La Văn Cầu: Cánh tay gửi lại chiến trường Đông Khê và ý chí thép mở đường cho đại quân chiến thắng

Đại tá, Anh hùng La Văn Cầu: Cánh tay gửi lại chiến trường Đông Khê và ý chí thép mở đường cho đại quân chiến thắng

Cần Thơ22/10/2026Nguyễn Khánh Duy (Đại học Bách Khoa Hà Nội)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Đại tá, Anh hùng La Văn Cầu: Cánh tay gửi lại chiến trường Đông Khê và ý chí thép mở đường cho đại quân chiến thắng

Trong kho tàng lịch sử quân sự Việt Nam thế kỷ XX, cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp với đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 được tạo nên từ những bước ngoặt chiến lược vĩ đại, mà mở đầu chính là Chiến dịch Biên giới Thu Đông năm 1950. Nhắc đến trận đánh mở màn tiêu diệt cụm cứ điểm Đông Khê (Cao Bằng) năm ấy, lớp lớp thế hệ người Việt Nam đều khắc ghi tên tuổi một người lính xung kích người dân tộc Tày đã trở thành huyền thoại sống của Quân đội nhân dân Việt Nam: Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân La Văn Cầu.

Sinh năm 1932 tại một bản nghèo thuộc huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, La Văn Cầu sớm mồ côi cha, lớn lên trong cảnh quê hương bị thực dân đô hộ. Năm 1948, khi mới 16 tuổi, vì khao khát được cầm súng giải phóng quê hương, chàng thiếu niên người Tày đã khai tăng tuổi lên 18 để đủ điều kiện xin gia nhập bộ đội chủ lực thuộc Trung đoàn 174 (Đoàn Cao – Bắc – Lạng). Trong hơn hai năm đầu quân ngũ, chiến sĩ trẻ La Văn Cầu đã tham gia hàng chục trận đánh lớn nhỏ trên tuyến đường số 4 đẫm máu, luôn xung phong đi đầu trong các tổ bộc phá mở cửa mở.

Đỉnh cao của lòng quả cảm ấy diễn ra vào rạng sáng ngày 16/9/1950 trong trận công kiên đồn Đông Khê – một pháo đài phòng ngự kiên cố của Pháp được bao bọc bởi nhiều lớp hàng rào dây thép gai, bãi mìn và hệ thống lô cốt bê tông cốt thép dày đặc. Theo hồi ức của chính Đại tá La Văn Cầu trong những buổi nói chuyện truyền thống với thế hệ trẻ, lúc bấy giờ ông được giao nhiệm vụ làm Chỉ huy tổ bộc phá thuộc Đại đội 671, Trung đoàn 174, có trọng trách đánh sập hàng rào và lô cốt đầu cầu để mở đường cho bộ binh xung phong vào trung tâm cứ điểm.

Khi lệnh nổ súng phát ra, dưới làn mưa đạn đại liên và pháo cối bắn chặn điên cuồng từ các lỗ châu mai của địch, các chiến sĩ trong tổ bộc phá lần lượt bị thương vong. Bản thân La Văn Cầu khi đang ôm ống bộc phá nặng 12kg lao lên đánh quả thứ năm để phá hủy lô cốt cố thủ thì bất ngờ trúng một loạt đạn đại liên của địch. Viên đạn xuyên qua làm dập nát hoàn toàn phần xương cánh tay phải của ông, máu tuôn xối xả ướt đẫm vạt áo trấn thủ, cơn đau buốt thấu tận tim óc khiến ông ngã xuống hào giao thông.

Khi tỉnh dậy giữa tiếng súng nổ rền vang, La Văn Cầu nhận thấy hỏa lực từ chiếc lô cốt địch vẫn đang điên cuồng khạc lửa, ghìm chặt đội hình xung kích của đơn vị bên ngoài hàng rào. Nếu không đánh sập chiếc lô cốt này trước khi trời sáng, trận đánh sẽ gặp tổn thất vô cùng lớn. Ông cố gắng dùng tay trái nâng khối bộc phá tiếp tục trườn lên, nhưng cánh tay phải đã bị gãy nát cứ lủng lẳng vướng víu, mỗi lần chạm vào đất đá là một lần đau đớn làm cản trở tốc độ cơ động.

Trong khoảnh khắc lịch sử ấy, khi rút về chỗ đồng đội băng bó, La Văn Cầu đã đưa ra một quyết định khiến tất cả những ai nghe kể lại đều rùng mình cảm phục: Ông nghiến chặt hàm răng, yêu cầu người đồng đội cùng đơn vị là chiến sĩ Nông Văn Phiêu dùng lưỡi lê súng trường chặt đứt hẳn cánh tay phải đang lủng lẳng của mình để không còn bị vướng khi ôm bộc phá! Người đồng đội rơi nước mắt không nỡ xuống tay, nhưng trước mệnh lệnh đanh thép của La Văn Cầu: "Vì nhiệm vụ chung của đơn vị, đồng chí phải chặt ngay cho tôi lên đánh tiếp!", người đồng đội đành nghiến răng vung lưỡi lê dứt khoát.

Sau khi băng vội mỏm cụt cánh tay phải đẫm máu, với sức mạnh phi thường của lòng yêu nước, La Văn Cầu dùng tay trái kết hợp với cằm và ngực kẹp chặt khối bộc phá nặng 12kg, một lần nữa lao vút qua làn đạn, áp sát lô cốt địch và giật nụ xòe. Tiếng nổ long trời lở đất vang lên, chiếc lô cốt kiên cố nhất ở hướng đột phá khẩu tan tành trong khói lửa, mở toang cánh cửa cho đại quân ta ồ ạt xung phong làm chủ hoàn toàn cứ điểm Đông Khê, xoay chuyển cục diện chiến trường để tiến tới thắng lợi quyết định tại Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.

Năm 1952, tại Đại hội Chiến sĩ thi đua và Cán bộ gương mẫu toàn quốc lần thứ nhất tổ chức tại chiến khu Việt Bắc, La Văn Cầu là một trong 7 cá nhân đầu tiên của cả nước được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ trao tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân khi mới 20 tuổi. Cánh tay gửi lại chiến trường Đông Khê năm nào của người thương binh, cựu chiến binh La Văn Cầu đã trở thành biểu tượng bất diệt cho ý chí "Không có gì quý hơn độc lập, tự do". Câu chuyện của ông dạy cho thế hệ sinh viên hôm nay bài học sâu sắc về nghị lực vượt lên nghịch cảnh: Khi con người có một lý tưởng lớn lao vì Tổ quốc, không một rào cản hay nỗi đau thể xác nào có thể khuất phục được ý chí vươn lên.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn