Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Văn Tàu (bí danh Tư Cang) - Nhà tình báo xuất sắc hoạt động bí mật trong nội thành Sài Gòn
Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Văn Tàu (bí danh Tư Cang) trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Ông có nhiều năm hoạt động tình báo trong nội thành Sài Gòn. Dù ở hoàn cảnh, cương vị nào, ông đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Nguyễn Văn Tàu (Bí danh Tư Cang), sinh ngày 30 tháng 10 năm 1928 tại Vũng Tàu. Ông tham gia cách mạng từ năm 1945, trong phong trào Thanh niên tiền phong.
Trong giai đoạn 1947–1954, ông là chiến sĩ quân báo của Việt Minh ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Ông chuyên lừa lính Pháp để lấy tiền và tin tình báo. Năm 1954, ông tập kết ra Bắc, đổi tên là Trần Văn Quang và làm trung đội trưởng trinh sát kiêm chính trị viên đại đội đặc công, Sư đoàn 338.
Năm 1961, ông quay lại hoạt động tại chiến trường miền Nam. Đầu năm 1961, cụm tình báo quân sự A18 (tiền thân của cụm H.63) ra đời, đóng tại căn cứ Bời Lời (Tây Ninh). Tất cả để phục vụ điệp viên nổi tiếng Hai Trung. Đằng sau những tin tức, tài liệu chuyển về của Hai Trung, là cả hệ thống phục vụ, cả trong nội đô và ngoài căn cứ. Thời kỳ đầu, H.63 là bộ phận địch tình của thành ủy Sài Gòn. Khi Hai Trung (X6, Phạm Xuân Ẩn) từ Mỹ trở về, hoạt động giữa Sài Gòn với tư cách phóng viên báo nước ngoài, ông Mười Nho (Xuân Mạnh, Nguyễn Nho Quý – cán bộ Cục Tình báo) là người trực tiếp chỉ đạo.
Năm 1962, ông Mười Nho bị bệnh, không thể chỉ huy H.63. Cả mạng lưới với một điệp viên đã nằm sâu trong lòng địch như Hai Trung, cần một chỉ huy giỏi và mưu trí. Tư Cang là người được ông Ba Trần, Thủ trưởng Phòng tình báo miền lúc bấy giờ lựa chọn. Tháng 5 năm 1962, Tư Cang chính thức được giao nhiệm vụ chỉ huy cụm H.63. Sau chiến tranh, "bộ máy" H.63 đã 2 lần trở thành anh hùng (với những điệp viên tiêu biểu như: Tư Cang, Hai Trung, Tám Thảo, Mười Nho, Nguyễn Thị Ba,...).
Tháng 11 năm 1973 với quân hàm trung tá, ông và Nguyễn Văn Khiêm - lúc bấy giờ là thượng tá, là hai thành viên của Phòng Tình báo miền (J22) có mặt trong nhóm 20 sĩ quan cấp tá được chọn tập kết ra Bắc học tập, chuẩn bị cho các chiến dịch lớn.[1] Sau ông là Chính ủy Lữ đoàn 316 đặc công biệt động, đơn vị tấn công cầu Rạch Chiếc trong Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975.
Vào những ngày cuối tháng 4 năm 1975 , ông được nhận nhiệm vụ chỉ điểm những vị trí đóng quân của quân lực Việt Nam Cộng Hòa ở trong thành phố Sài Gòn cho quân đoàn 3, phòng trường hợp chính quyền Dương Văn Minh không đầu hàng Quân giải phóng thì sẽ pháo kích, đánh chiếm từng đường phố trong thành phố.
Trong sự nghiệp hoạt động cách mạng, vị Đại tá tình báo lừng lẫy Tư Cang chỉ được ở trọn vẹn bên người vợ thân yêu vài tháng ngắn ngủi, sau đó là 28 năm biệt tích, xa gia đình. Những năm làm chỉ huy cụm tình báo, ông đổi tên, sống với nhiều vỏ bọc để che giấu thân phận, chưa từng ghé thăm nhà dù gần trong gang tấc. Lúc đoàn tụ vợ con, Đại tá Tư Cang 47 tuổi, lần đầu bế cháu ngoại trên tay...
Ngày kết thúc chiến tranh ở Sài Gòn, ông Tư Cang đi vào Bộ Tổng Tham mưu chế độ cũ, phát hiện một danh sách các cán bộ của Việt Cộng mà địch cất công điều tra, theo dõi. Tên ông có trong danh sách, nhưng Mỹ và chế độ cũ không có ảnh, cũng không nắm được nhiều thông tin về ông, ngoài vài dòng "chưa xác định".
Năm 2005, ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, là một trong những cụm trưởng cụm tình báo tiêu biểu và đặc biệt xuất sắc.



