ĐẠI TÁ BÀNH VĂN ĐỞM "ANH HÙNG TRONG KHÁNG CHIẾN"
Anh hùng trong kháng chiến
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, U Minh Thượng là nơi bộ đội, cơ quan, các tổ chức cách mạng các tỉnh miền Tây Nam bộ đã chọn để xây dựng và phát triển lực lượng kháng chiến đánh giặc như: Quân khu 9, Xứ ủy, Trung ương cục miền Nam, Ủy ban Kháng chiến hành chánh Nam bộ. Trong kháng chiến chống Mỹ, U Minh Thượng là căn cứ của Khu ủy, Quân khu 9, Tỉnh ủy Rạch Giá… cho nên Mỹ - Ngụy đã rắp tâm tìm mọi cách, bằng mọi thủ đoạn dã man, hòng phá tan thành trì cách mạng U Minh Thượng, mưu đồ “nhổ cỏ U Minh” của địch là một hành động tàn khốc, ác liệt đến mức khó tưởng tượng nổi. Thế nhưng, kẻ thù cũng không hiểu nổi vì sao trong hoàn cảnh khốc liệt ấy, người dân U Minh, cách mạng ở U Minh vẫn tồn tại và phát triển, lại là một căn cứ địa vững chắc giữa miền Tây Nam Bộ để từ đó, khởi nguồn bao nhiêu chiến công trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm vĩ đại trên vùng Tây Nam Tổ quốc. Những cái tên Cây Bàng, Xẻo Cạn, kênh chống Mỹ, Công Sự... đã đi vào lịch sử đấu tranh cách mạng của nhân dân U Minh Thượng, như những chiến công oanh liệt, không thể phai mờ.
Căn cứ U Minh Thượng, nhân dân U Minh Thượng đã đùm bọc, nuôi dưỡng, bảo vệ, chở che rất chí nghĩa, chí tình cho đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta. Các đồng chí Lê Duẩn, Phạm Hùng, Lê Đức Thọ, Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt, Lê Đức Anh, Lê Hồng Anh, Nguyễn Tấn Dũng.... đã từng sống, chiến đấu, gắn bó thân thiết với nhân dân trên vùng đất thủy chung anh dũng này. Biết bao đồng chí đã ngã xuống, mãi mãi nằm lại trên mảnh đất U Minh. Căn cứ địa cách mạng U Minh Thượng, chiến công của U Minh Thượng là một điểm son mãi mãi không thể phai mờ trong bản anh hùng ca bất diệt của quân và dân ta.
Trong những ngày tháng Tư lịch sử, khi nhắc lại thời chiến tranh, Anh hùng Lao động Bành Văn Đởm, nguyên Trưởng Trại giam Kênh 7, nguyên Trưởng ban Quản lý rừng đặc dụng phòng hộ U Minh Thượng cho biết, ông tham gia cách mạng là bởi không chịu đựng được cảnh dân mình sống trong cảnh lầm than, “một cổ hai tròng”, bị đàn áp bởi địa chủ phong kiến và thực dân Pháp. Giờ đây, mỗi khi về U Minh Thượng, nhiều người biết đến ông như một huyền thoại, đó là một vị Đại tá Công an có nhiều Huân, Huy chương, cơ thể có nhiều thương tích; một vị đại tá có “chiêu” thu phục phạm nhân, bảo vệ rừng và tạo sinh kế cho hàng ngàn con người… Ông Đởm còn có hai người anh hy sinh trong kháng chiến chống Pháp.
Quả thật không ngoa nếu nói ông Mười Đởm là “Người của rừng”, bởi cả đời ông đều gắn bó với rừng. Ở cái tuổi “xưa nay hiếm” - hơn 90 tuổi, ông Mười Đởm vẫn minh mẫn, giọng cứng rắn, giàu lòng vị tha như cái thời ông còn làm Trưởng Trại giam Kênh 7. Hơn 30 năm trên cương vị này, ông Mười Đởm cảm hóa nhiều cuộc đời “lầm đường lạc lối”. Là trưởng trại cải tạo, ông tìm phương án cải tạo phạm nhân tốt để họ làm ra của cải; giáo dục người hư, phục hồi nhân cách trước khi trở về với xã hội.
Qua “lò luyện” của ông Mười Đởm, hàng ngàn phạm nhân trước đó phạm tội giết người, cướp của... đã có nghề thợ mộc, thợ hồ, thợ lò gạch... Thời điểm đất nước còn bộn bề khó khăn, ông Mười Đởm chỉ đạo phát sậy, bán nhà máy giấy, lò đốt, bán cá trong rừng để thuê xáng cạp múc các dòng kênh ngăn cháy rừng, đồng thời bảo vệ trên 1.000 ha rừng cần được bảo vệ nghiêm ngặt.
Đại tá Bành Văn Đởm (95 tuổi đời, 57 năm tuổi đảng), Thương binh, Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới, nguyên Giám thị Trại giam Kênh 7 (Bộ Công an) ngụ xã An Minh Bắc, huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang là người con của gia đình giàu truyền thống cách mạng (mẹ là liệt sỹ, hai người anh hy sinh trong kháng chiến chống thực dân Pháp). Năm 1945, ông tham gia hoạt động cách mạng và sau này trở thành một chiến sỹ Công an nhân dân. Sau khi tham gia vào Đội thiếu niên Tiền phong xã Vân Khánh, huyện An Biên, ông trải qua nhiều nhiệm vụ, kể cả xây dựng cơ sở mật ngay trong lòng địch (thợ mộc xây dựng đồn địch); ông đã âm thầm vẽ sơ đồ căn cứ địch giúp cách mạng. Thời gian này, ông bị địch bắt nhưng nhờ khéo léo, ông đã được thả về.
Trong thời gian tham gia kháng chiến, ông được đào tạo các lớp về chính trị và quân sự. Năm 1968, ông vinh dự được đứng trong hàng ngũ của Đảng. Thời gian này, ông đảm nhiệm vai trò Phó trưởng Công an xã Vân Khánh, phụ trách trinh sát địa bàn nơi Chủ tịch nước Lê Đức Anh từng hoạt động cách mạng. Năm 1972-1973, ông được phân công giữ chức Phó Ban An ninh huyện An Biên, Thường trực chiến dịch giải phóng huyện An Biên ngày 30/4/1975.
Hồi tưởng về những ngày tháng rực lửa hào hùng, ông Đởm cho biết, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, U Minh Thượng là nơi bộ đội, cơ quan, các tổ chức cách mạng của các tỉnh miền Tây Nam Bộ chọn để xây dựng và phát triển lực lượng kháng chiến đánh giặc như: Quân khu 9, Xứ ủy, Trung ương cục miền Nam, Ủy ban Kháng chiến hành chánh Nam Bộ. Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, U Minh Thượng là căn cứ của Khu ủy, Quân khu 9, Tỉnh ủy Rạch Giá… nên Mỹ ngụy đã rắp tâm tìm mọi cách, bằng mọi thủ đoạn dã man, hòng phá tan thành trì cách mạng U Minh Thượng. Mưu đồ “nhổ cỏ U Minh” của địch là một hành động tàn khốc, ác liệt đến mức khó tưởng tượng nổi.
Dù trong hoàn cảnh khốc liệt, tại Căn cứ U Minh Thượng, nhân dân đã đùm bọc, nuôi dưỡng, bảo vệ, chở che cho các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước hoạt động cách mạng như: đồng chí Lê Duẩn, Phạm Hùng, Lê Đức Thọ, Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt, Lê Đức Anh, Nguyễn Tấn Dũng, Lê Hồng Anh…
“Do U Minh Thượng là khu căn cứ cách mạng nên quân địch tập trung lực lượng càn quét quân ta bằng nhiều phương tiện, vũ khí như máy bay B52 và có 7 lần đánh bom 7 tấn, kết hợp thả dù kéo bom để tăng sức tàn phá rộng mấy trăm mét vuông, đồng thời thả quân xuống các khu vực bắn phá bằng súng AK, lựu đạn, rải chất độc hóa học. Những trận đánh này khiến quân ta hy sinh không ít, nhưng lực lượng vẫn bám chiến hào, tuyệt đối trung thành, chấp hành theo sự chỉ huy của Quân khu, khôn khéo áp dụng các chiến thuật, kỹ thuật đánh địch cho đến ngày toàn thắng, giải phóng hoàn toàn miền Nam”, ông Bành Văn Đởm nhấn mạnh.
Sau hòa bình, ông Bành Văn Đởm là Ủy viên Ban An ninh tỉnh Kiên Giang, trực tiếp chỉ đạo, đập tan nhiều mạng lưới gián điệp, hòng chống phá đất nước ta. Năm 1976, ông giữ chức vụ Trưởng trại giam kênh 7 thuộc Bộ Công an, đặt tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Hơn 30 năm trên cương vị này, ông đã cảm hóa nhiều cuộc đời “lầm đường lạc lối”. Có hàng nghìn phạm nhân trước đó phạm tội giết người, cướp của nhưng qua “lò luyện” của ông đã có nghề để mưu sinh như thợ mộc, thợ hồ, thợ lò gạch, hớt tóc… Với những thành tích đạt được, năm 2000, ông vinh dự được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới.



