Bài viết

Đại tá Hoàng Thúc Cẩn với những kí ức người lính pháo binh

Lào Cai04/06/2026HỒNG NAM (PHƯỜNG YÊN BÁI)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đại tá Hoàng Thúc Cẩn (tức Huỳnh Thúc Cẩn), quê ở làng Minh Lệ, xã Quảng Minh, huyện Quảng Trạch (nay thuộc thị xã Ba Đồn), tỉnh Quảng Bình). Hồi nhỏ ông học cùng lớp với ông Nguyễn Hữu Vũ hay Nguyễn Văn Đồng, nay là Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên, ở trường tiểu học “École Primaire Complémentaire de Thọ Linh”.

Nhà ông Cẩn có 7 anh em. Học xong tiểu học ở làng Thọ Linh, ông theo hai anh trai là Hoàng Thúc Cảnh và Hoàng Thúc Tuệ vào học trường trung học tư thục Thuận Hóa tại Huế. Cách mạng tháng Tám thành công, ông về làng làm đội trưởng đội thiếu niên du kích. Ông gặp lại người bạn lớn hơn ông 5 tuổi, lúc ấy mang tên Nguyễn Văn Đồng đang làm Bí thư Huyện ủy, kiêm Huyện đội trưởng huyện Quảng Trạch. Năm 1947, giặc Pháp tiến đánh Quảng Bình và đóng đồn Minh Lệ. Ông Nguyễn Văn Đồng giao cho ông Cẩn nhiệm vụ vẽ lại bản đồ đồn địch. Đêm 16 tháng 8 năm 1947, ông Đồng đã chỉ huy Đại đội 5, du kích (sau này là Đại đội 365, bộ đội Quảng Trạch) tập kích đồn Minh Lệ, diệt được 13 tên Pháp và 30 tên ngụy.

Tháng 5 năm 1948, giặc Pháp rút khỏi đồn Minh Lệ lần thứ nhất, ông Cẩn giao chỉ huy đội thiếu niên du kích lại cho ông Hoàng Hữu Thanh, rồi đi bộ đội. Lúc đó Bình Trị Thiên đang là vùng địch tạm chiếm nhưng Thanh Nghệ Tĩnh là vùng tự do của ta. Ông Cẩn đến cầu Mượu (Rú Mượu) tìm đường về nhà Bác Hồ. Cụ cả Khiêm, anh trai của Bác Hồ, lúc đó đang làm thuốc. Ông thấy ảnh Bác Hồ treo trên vách giống cụ cả Khiêm như tạc. Một lúc sau bà Thanh, chị gái của Bác Hồ, cũng chống gậy từ quê ngoại về. Ông hỏi cụ cả Khiêm:

- Thưa bác, cháu thường nghe nhân dân ta đọc câu sấm của Trạng Trình: “Thân Dậu niên lai kiến thái bình…” Vậy theo bác thì ý là thế nào ạ?

Cụ cả Khiêm và o Thanh không trả lời ngay. Biết ông Cẩn có học chữ Hán, cụ cả Khiêm vừa đọc vừa lấy ngón tay trỏ nhúng nước viết mấy câu thơ lên bàn: Đầu thu gà gáy xôn xao/ Mặt trăng xưa sáng chiếu vào Thăng Long/ Chó kêu rên rỉ mùa đông/ Cha con nhà Nguyễn bế bồng nhau đi. Cụ cả Khiêm chơi chữ. Theo chiết tự chữ Hán thì ghép các câu trên lại thành nghĩa lớn. Đầu thu gà gáy xôn xao/ Mặt trăng xưa sáng chiếu vào Thăng Long ý nói năm Ất Dậu 1945 (năm con gà) Bác Hồ về Hà Nội. Chó kêu rên rỉ mùa đông/ Cha con nhà Nguyễn bế bồng nhau đi là mùa đông năm Bính Tuất (1946), Bảo Đại trốn sang Trùng Khánh (Trung Quốc)

Năm 1951, ông Cẩn làm Trung đội trưởng Trung đội 8 (B8, C71, D375, E9, F304). Đại đoàn 304 (F304) lúc đó do đồng chí Hoàng Minh Thảo (sau này là Thượng tướng, Giáo sư) làm Tư lệnh.

Ngày 28/2/1951, Bác Hồ đến Tuyên Quang, động viên đơn vị trước khi ra trận tham gia chiến dịch Hoàng Hoa Thám (chiến dịch đường số 18). Lúc này ông Cẩn mới được gặp Bác Hồ, một con người bằng da bằng thịt đứng trên lễ đài. Bác nói: “Hôm nay là cha đến thăm con, Bác đến thăm cháu, không riêng là Chủ tịch nước tới thăm bộ đội...” Chiến dịch Hoàng Hoa Thám kết thúc thắng lợi nhưng kết quả còn hạn chế vì hỏa lực vũ khí của địch quá mạnh.

Sau chiến dịch Hoàng Hoa Thám, Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam quyết định mở chiến dịch Quang Trung (chiến dịch Hà Nam Ninh), nhằm phá vỡ phòng tuyến sông Đáy của địch. Trận đánh đêm 28/5/1951 ông Cẩn đã cho đặt 2 khẩu súng SKZ cách lô cốt 9 mét diệt gọn đồn Cổ Đôi. Đêm 29/5/1951 ông cho đặt súng cách lô cốt 7 mét diệt nốt đồn Bụt Nổi. Lúc này Đại tướng Jean de Lattre de Tassigny quân viễn chinh Pháp mới sang Đông Dương thuyết phục được Bảo Đại thành lập “Quân đội quốc gia”. Tháng 6 năm 1951, Giám mục Lê Hữu Từ cùng Jean de Lattre de Tassigny bay gấp từ Sài Gòn ra Hà Nội, đến Phát Diệm để đối phó với quân ta. Lúc này chiến dịch đang bước vào đợt tiến công thứ 2.

Một chiều tháng 6/1951 tại Đền Rồng vùng núi Tam Điệp, Tư lệnh Đại đoàn 304 Hoàng Minh Thảo giao cho ông Cẩn nhiệm vụ đặc biệt đánh đòn phủ đầu. Với một khẩu pháo cối Mĩ và 20 viên đạn “uy lực lớn”, ông đã chỉ huy một phân đội nhỏ gồm 12 người đánh trúng sào huyệt của địch tại Phát Diệm. Hôm sau đồng chí Huyện đội trưởng huyện Kim Sơn báo lại là xác lính địch bị diệt phải chở trên 4, 5 xe vận tải quân sự GMC. Ông Cẩn được Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi điện khen ngợi. Kết thúc chiến dịch, Bác Hồ gửi thư khen các chiến sĩ tham gia chiến dịch đã tiêu diệt được hơn 20 đại đội của địch, “đã làm lay động tinh thần ngụy quân, đã phát triển chiến tranh du kích, bảo vệ nhân dân, bảo vệ mùa màng”.

Sau này, trong dịp kỉ niệm 45 năm ngày thành lập Sư đoàn 304 tại Bảo tàng Hồ Chí Minh (10/3/1950 - 10/3/1995), khi nói về kỉ niệm này Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã bắt tay ông Cẩn thật chặt và nói: “Đây là một chiến công lớn, đồng chí đã lập công lớn, giá lúc ấy bộ đội chưa rút về tập kết ở Thanh Hóa, chắc chắn đã chớp được thời cơ, phát huy được tác dụng và thắng lợi sẽ không lường được…”

Một kỉ niệm nữa mà Đại tá Hoàng Thúc Cẩn ghi nhớ suốt đời là cuối năm 1951, ta mở Chiến dịch Hòa Bình. Đại đoàn 304 có nhiệm vụ kiềm chế mọi hoạt động của địch từ thị xã Hòa Bình và đánh địch trên đường số 6. Ngày 12/1/1952, Trung đội 8 (thuộc C71, D375, E9, F304) của ông phục kích đoàn xe vận tải của địch ở cầu Cụt Tai bắc qua con suối Cạn trên đường số 6. Ông chỉ huy trung đội diệt gọn đoàn xe vận tải 8 chiếc và lính Âu Phi, bắt được một hạ sĩ quan thông tin mang máy RPĐ của Mĩ. Bằng tiếng Pháp ông đã ra lệnh cho tên tù binh truyền lệnh cho trận địa pháo địch phía sau bắn sang hướng khác. Trung đội tiếp tục chặn đánh một đoàn xe GMC bắt được 1 xe tiếp tế lương thực, tiếp tục chiến đấu. Gần nửa tháng trời, 17 người còn lại bị vây hãm giữa rừng già không liên lạc được với bên ngoài. Đơn vị tưởng đã hi sinh hết, liền làm lễ truy điệu cho trung đội ông trước khi vào trận mới. Anh trai ông (Đại tá Hoàng Thúc Tuệ) tưởng ông đã hi sinh trên cầu Cụt Tai, làm bài thơ khóc em rất cảm động:

…Em ơi! Sao em đi vội thế?
Chiến trường đang thắng nơi nơi
Đường 6 quân ta băm nát
Sông Đà tàu giặc im hơi…

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ông Cẩn nhận nhiệm vụ về Cao Bằng xây dựng Trung đoàn pháo binh 82. Ngày 10/10/1954 khi đoàn quân viễn chinh của thực dân Pháp rút qua cầu Long Biên, theo lệnh của Trung đoàn 82, ông Cẩn chỉ huy một đại đội về Hà Nội. Ông Hoàng Thúc Cảnh cũng theo cơ quan Chính phủ từ chiến khu Việt Bắc về Phủ toàn quyền cũ, nay là Phủ Chủ tịch. Ông Tuệ trong đội hình Đại đoàn 304 từ Xuân Mai về Ngã Tư Sở. Hai người em ông, người đóng quân ở cầu Long Biên, người theo xe Trung đoàn 57, vào nội thành. Năm anh em ông Cẩn may mắn gặp nhau trong ngày giải phóng Thủ đô.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn