Đại tá La Văn Cầu: "Cánh tay thép" của lịch sử
Ông là một sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam mang quân hàm Đại tá. Ông là một trong bảy người đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân tại Đại hội chiến sĩ thi đua toàn quốc lần I. Ông nguyên là Ủy viên trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ngay khi còn sống, La Văn Cầu đã được đặt tên cho trường học và đường phố ở Việt Nam

Đại tá La Văn Cầu: "Cánh tay thép" của lịch sử
Đại tá La Văn Cầu (sinh năm 1932), tên thật là Sầm Phúc Hướng, ông là người dân tộc Tày, quê ở xã Phong Nặm, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng (nay là xã Đình Phong, tỉnh Cao
Bằng).
Ông là một sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam mang quân hàm Đại tá. Ông là một trong bảy người đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân tại Đại hội chiến sĩ thi đua toàn quốc lần I.
Ông nguyên là Ủy viên trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ngay khi còn sống, La Văn Cầu đã được đặt tên cho trường học và đường phố ở Việt Nam.
Kể về cuộc đời binh nghiệp của mình, Anh hùng La Văn Cầu cho biết, năm 1948, theo lời kêu gọi của Tổ quốc, mới 16 tuổi ông đã xung phong lên đường đánh giặc. Ông gia nhập Đại đội 671, một đơn vị địa phương Cao Bằng của quân đội Việt Minh (khi đó gọi là Quân đội Quốc gia Việt Nam (từ năm 1950 gọi là Quân đội nhân dân Việt Nam). La Văn Cầu được kết nạp Đảng Cộng sản Đông Dương vào năm 1950.
Ông đã tham gia 2 chiến dịch lớn với tổng cộng hơn 25 trận đánh, trong trận phục kích trên đường Bông Lau-Lũng Phầy ở Cao Bằng năm 1949, ông đã xung phong và một mình bắn chết lính Pháp trên xe tăng rồi nhảy lên xe đối phương dùng súng trên xe diệt thêm 10 lính Pháp nữa.
Trong đó trận đánh đồn Đông Khê trong Chiến dịch biên giới Thu - Đông từ ngày 16 đến 18/9/1950 là đáng nhớ nhất, bởi cánh tay phải của ông vĩnh viễn nằm lại chiến trường.
Sau 29 ngày đêm chiến đấu quyết liệt, anh dũng và mưu trí, chiến dịch Biên giới Thu - Đông 1950 đã giành thắng lợi. Chiến công của chiến sĩ trẻ La Văn Cầu khi ấy trở thành hiện tượng, tấm gương sáng cổ vũ phong trào thi đua giết giặc lập công trong toàn quân, trở thành lá cờ đầu trong phong trào thi đua sử dụng bộc phá công đồn - hình thức chiến thuật mới của quân đội ta từ Chiến dịch Biên giới năm 1950.
Sau trận Đông Khê, nhìn cánh tay phải bị tháo khớp đến bả vai, cũng có lúc ông hoang mang… Tuy nhiên, những bi quan ấy chỉ là thoáng qua chứ không làm ông mất phương hướng.
Ông nhanh chóng thích nghi với hoàn cảnh mới, xác định sẽ biến tay trái trở thành tay phải. Sau 3 tháng luyện tập, ông có thể dùng tay trái như tay phải, kể cả việc khó như bắn súng.
Xác định rõ tư tưởng, La Văn Cầu tập trung học văn hóa và chính trị. Ông tiếp tục ở lại trong quân đội với công việc tuyên huấn, chuyên trách công tác thanh niên. Năm 1952, tại Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ Nhất, chiến sĩ trẻ La Văn Cầu được vinh dự là một trong 7 chiến sĩ đầu tiên được phong danh hiệu "Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân".
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Với thành tích đặc biệt, ông vinh dự được gặp và ăn cơm cùng Bác Hồ. Sau đó, ông được phân công về công tác ở Phòng Tổ chức quân khu I, Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam… cho đến tháng 8/1996 thì ông nghỉ hưu.
Giờ đây, ở tuổi 93, Đại tá La Văn Cầu sống một cuộc sống giản dị cùng người vợ đảm đang, hiền hậu. Những lúc khỏe mạnh, ông vẫn tưới cây, quét nhà và dành nhiều thời gian đọc báo, xem thời sự, trò chuyện với người bạn đời.
Cuộc đời của Anh hùng La Văn Cầu được đưa vào bài tập đọc của sách giáo khoa tiểu học ở Việt Nam. Tên ông được dùng để đặt cho nhiều trường học và một số con đường ở Thủ đô Hà Nội, TP Vũng Tàu, TP Nam Định và một khu phố ở thị trấn Nam Sách, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
Ông là trường hợp đặc biệt hiếm có ở Việt Nam và trên thế giới khi đang còn sống đã được đặt tên đường. Ông được vinh danh công dân Thủ đô ưu tú năm 2019 tại Hội nghị Biểu dương điển hình tiên tiến, người tốt, việc tốt tiêu biểu.
Anh hùng La Văn Cầu trở thành biểu tượng trong trái tim của bao thế hệ Việt Nam là minh chứng hào hùng nhất cho sự hy sinh quên mình vì Tổ quốc, vì độc lập dân tộc.


