Đại tá Lê Bá Ước - Người anh cả linh hồn Đạc công rừng Sác anh hùng
Vũ Thị Vân
Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lê Bá Ước, thường được đồng đội thân mật gọi là Bảy Ước, là một trong những người chỉ huy nổi tiếng gắn liền với những năm tháng chiến đấu hào hùng của Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác. Ông sinh ngày 12 tháng 4 năm 1931 tại xã Vĩnh Hòa Hưng, huyện Gò Quao, tỉnh Rạch Giá, nay thuộc tỉnh Kiên Giang, trong một gia đình có truyền thống yêu nước và cách mạng. Từ năm 1945, khi còn rất trẻ, Lê Bá Ước đã tham gia cách mạng. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ông gia nhập Vệ quốc đoàn và hoạt động trong Ban Tình báo C70. Năm 1954, ông tập kết ra miền Bắc, nhưng khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn ác liệt, ông quyết định trở về miền Nam, vượt Trường Sơn vào chiến trường.
Năm 1965, Lê Bá Ước vượt Trường Sơn trở lại miền Nam và được phân công hoạt động tại chiến trường Rừng Sác. Đây là một vùng rừng ngập mặn rộng lớn, địa hình vô cùng hiểm trở, nằm ở cửa ngõ phía Đông Nam Sài Gòn. Đối với lực lượng Đặc công Rừng Sác, sông Lòng Tàu là tuyến đường thủy đặc biệt quan trọng, nơi những đoàn tàu vận tải của đối phương thường xuyên qua lại. Chính trong vùng đất đầy gian khổ ấy, người chiến sĩ Lê Bá Ước đã cùng đồng đội bám trụ, chiến đấu và xây dựng nên một đơn vị đặc công nổi tiếng trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ.
Ngày 15 tháng 4 năm 1966, Đặc khu Rừng Sác, mật danh T10, được thành lập; đến năm 1967, đơn vị chính thức mang phiên hiệu Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác. Lê Bá Ước lần lượt đảm nhiệm các cương vị Phó Chính ủy, Chính ủy rồi Đoàn trưởng kiêm Chính ủy Đoàn 10. Sau Xuân Mậu Thân 1968, ông được cử làm Chính ủy; đến cuối năm 1969, ông trở thành Đoàn trưởng kiêm Chính ủy Đoàn 10.
Những năm tháng ở Rừng Sác là những ngày tháng vô cùng khắc nghiệt. Bộ đội phải sống giữa vùng rừng ngập mặn, thiếu nước ngọt, thiếu lương thực và thường xuyên đối mặt với bom đạn cùng những hiểm nguy từ thiên nhiên. Có những lúc đơn vị bị đối phương bao vây, lương thực và đạn dược cạn kiệt, nhưng Lê Bá Ước vẫn động viên cán bộ, chiến sĩ giữ vững tinh thần chiến đấu. Với ông, chỉ cần còn người thì còn chiến đấu, còn người thì còn trận địa. Chính sự bình tĩnh, quyết đoán và gần gũi với đồng đội đã khiến ông được những người lính Rừng Sác kính trọng, gọi bằng cái tên trìu mến: “Người anh cả Rừng Sác”.
Dưới sự chỉ huy của những người như Lê Bá Ước, Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác đã lập nên nhiều chiến công vang dội. Đơn vị đánh phá các kho tàng, bến cảng và tuyến vận tải quan trọng của đối phương, trong đó có những trận đánh vào kho xăng Nhà Bè, kho bom Thành Tuy Hạ và các mục tiêu quân sự quan trọng quanh Sài Gòn. Những chiến công ấy góp phần làm gián đoạn tuyến vận tải đường thủy và gây sức ép lớn đối với hệ thống hậu cần của đối phương.
Đặc biệt, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, Đoàn 10 được giao nhiệm vụ khóa chặt sông Lòng Tàu, đánh phá các mục tiêu quan trọng và hỗ trợ phong trào cách mạng tại khu vực Rừng Sác. Lê Bá Ước cùng đồng đội trực tiếp tổ chức và chỉ huy nhiều hoạt động chiến đấu, góp phần giữ vững thế trận ở cửa ngõ Đông Nam Sài Gòn.
Điều đáng quý ở Lê Bá Ước không chỉ nằm ở tài năng của một người chỉ huy mà còn ở tình cảm sâu nặng dành cho đồng đội. Khi tuổi đã cao, ông vẫn dành nhiều thời gian viết hồi ký, làm thơ và kể lại những câu chuyện về Rừng Sác. Ông được đồng đội và nhiều người nghiên cứu lịch sử gọi là một “pho sử sống” của Đặc công Rừng Sác. Những trang viết của ông không chỉ kể về chiến công mà còn là lời tri ân đối với những người đồng đội đã mãi mãi nằm lại giữa vùng rừng nước khắc nghiệt ấy.
Cuộc đời Đại tá Lê Bá Ước là hình ảnh tiêu biểu của một thế hệ người lính đã dành trọn tuổi trẻ cho đất nước. Từ một thanh niên miền Tây tham gia cách mạng năm 1945, ông trở thành người chỉ huy của một đơn vị đặc công nổi tiếng, sống và chiến đấu giữa Rừng Sác trong những năm tháng ác liệt nhất của chiến tranh. Với lòng dũng cảm, bản lĩnh và tình yêu thương đồng đội, ông đã trở thành “Người anh cả” và “linh hồn” của Đặc công Rừng Sác. Tên tuổi Lê Bá Ước vì thế không chỉ gắn với những chiến công, mà còn gắn với một thế hệ đã sống, chiến đấu và cống hiến hết mình cho độc lập, tự do của Tổ quốc.


