Đại tá Nguyễn Trí Tổng – Đóa hoa giữa đời thường
Mùa Xuân này, Đại tá Nguyễn Trí Tổng bước sang tuổi 90, với gần 70 tuổi Đảng, 50 năm xông pha trận mạc. Dẫu không ít lần vào sanh ra tử, thân thể bao lần bị mảnh bom, vết đạn chà xát… nhưng cụ ông như hạt ngọc càng mài, vẫn giữ vững phong độ, bước chân vẫn lẹ làng và giọng nói vẫn thanh thoát. Đặc biệt, tướng mạo quắc thước, thần thái sáng suốt, trí tuệ minh mẫn và nếp sống gần gũi với xóm giềng đã toát lên vẻ đẹp bao dung, nhân từ, độ lượng của bậc trưởng thượng, đậm chất văn của một người lính
Từ cậu bé 13 tuổi lì gan
Lần tìm trong ngăn tủ những tấm ảnh lưu niệm của ba, chị Thu Lam – con gái Đại tá Nguyễn Trí Tổng chia sẻ: Ông sinh ngày 10/12/1936, tại làng Thi Lai (nay là thôn Thi Phương, xã Điện Phong, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam), là hậu duệ đời thứ Tư của quan Tòng tam phẩm, Phó Bảng Nguyễn Thành Châu (Một vị quan nổi tiếng thanh liêm, đối đáp tài tình dưới thời vua Tự Đức), thuộc dòng dõi Trần Lưu Quận Nguyễn Thành Tộc.
Làng Thi Lai ngày ấy là một vùng quê trù phú, yên bình bên dòng Thu Bồn thơ mộng. Chứng kiến cảnh đất nước, nhân dân bị giặc Pháp giày xéo, bóc lột, cậu bé Tổng nằng nặc xin ba mẹ đi theo cách mạng để trừ gian, diệt bạo, đêm ngày 9/9/1949, cậu Tổng đã đăng ký vào đội vũ trang tuyên truyền Việt Minh và được bổ sung vào lực lượng “Tuổi nhỏ làm việc nhỏ”. Ở độ tuổi “ăn chưa no, lo chưa tới”, nhưng cậu bé Tổng rất phấn khởi, vì đây là cơ hội để được đóng góp sức mình, biến phẫn nộ thành hành động lên bọn giặc.
Nhiệm vụ của ông lúc này được tổ chức phân công làm giao liên, cảnh giới. Nhờ mưu trí, gian dạ và thông thạo địa bàn, cậu bé Tổng nhiều lần chuyển thành công tài liệu mật, cung cấp nhiều thông tin của địch cho cách mạng và không ít phen thoát hiểm trong gang tấc. Có lần, vào một ngày ngày đầu mùa hè năm 1950, khi mang tài liệu mật từ xã Duy Hưng (Duy Xuyên) ra vùng A (Điện Bàn, Quảng Nam) phải vượt qua đồn Hòn Bằng (Trà Kiệu, Duy Xuyên, Quảng Nam). Nơi đây có hệ thống tháp canh của Pháp dày đặc. Chẳng may, Trí Tổng rơi vào tầm ngắm của chúng. Tưởng chừng mười mươi “dính”. Nhưng nhân lúc bọn chúng sơ hở, Tổng tẩu tán được tài liệu, rồi giả làm đứa trẻ đang tìm trâu lạc. Vật chứng trên người cậu bé chẳng có gì ngoài cái giằng cắt cỏ, dòm và bịt, bọn chúng chưng hửng. Rồi chúng giở trò hù dọa, dí họng súng vào ngực cậu bé hăm he, nhưng đành chào thua trước một cậu bé lì gan, kiên cường. Một lần khác vào cuối năm 1950, giữa lúc cán bộ dân chính đảng xã, thôn đang họp có thượng cấp về dự, bất ngờ bị bọn hương hào, tề nguỵ tuần tra gần mục tiêu. Ngồi trên lưng trâu làm nhiệm vụ cảnh giới, không một chút nao núng, cậu bé Tổng hồn nhiên thổi kèn lá… Nhận được “tín hiệu”, cán bộ ta nhanh chóng thu cất tài liệu, xoá hết vết tích, bí mật trú ẩn an toàn. Cấp trên khen ngợi ông hết lời và tin tưởng giao cho nhiều nhiệm vụ quan trọng khác.
Hơn 6 năm hoạt động nằm vùng (2 năm giao liên, 4 năm rưỡi bộ đội C26 và C61của huyện đội Điện Bàn và bộ đội chủ lực Liên khu V), ông được biên chế vào Đại đội trợ chiến 260, Tiểu đoàn 60, Trung đoàn 93 – Một đơn vị với nhiều thành tích nức tiếng. Đặc biệt, ngày 19/7/1954, đơn vị ông tham gia trận đánh làm nên Chiến thắng Bồ Bồ – Điện Bên Phủ trên đất Quảng Nam. Sau đó, ông tập kết ra miền Bắc.
10 năm tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954), ông tham chiến 7 trận đánh lớn nhỏ. Được “tôi rèn” trực tiếp trong khắc nghiệt, ác liệt của chiến trường, ông nghiệm ra rằng: “Khốc liệt trong chiến đấu là xương máu. Nhưng nhiệm vụ giao liên thì mối hiểm nguy luôn rập rình đòi hỏi sự bình tĩnh, dũng cảm mưu trí và gan dạ…”.
Sau 6 năm huấn luyện, tiếp thu kiến thức, đêm 29/3/1961, đơn vị nhận được lệnh hành quân Nam Tiến. 3 tháng ròng vượt núi, băng ngàn Trường Sơn, đơn vị tập kết về căn cứ Đỗ Xá, phía Tây huyện Trà My (Quảng Nam). Từ đây đơn vị chính thức bước vào trận chiến đấu mới. Gần 6 năm rưỡi, ông luôn gắn bó với Tiểu đoàn 30 Anh hùng, trực tiếp tham gia tác chiến hơn 36 trận lớn nhỏ ở khắp các chiến trường Gia Lai, Đắk Lắk, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa… Một đoạn thời ác liệt, vào sinh ra tử, dẫu bản thân mang đầy thương tích nhưng trong nhật ký của mình, ông lắng đọng mấy dòng cảm xúc đầy chất thơ, lạc quan, niềm tin tuyệt đối vào kháng chiến thắng lợi, một tương lai đất nước tươi sáng. “Đâu ngày, đâu tháng, đâu năm/Ngược xuôi chiến trận, trăng rằm vừa lên/Buồn vui đời lính nào quên/Xả thân vì nước, dựng nên cơ đồ/Bầu trời rực sáng ngàn sao/“Sao vàng – Cờ đỏ” sá bao nhọc nhằn/Xông pha quyết chiến càng hăng/…Giáp bào chiến trận, đã quen ngủ rừng”.
Ngày 24/8/1968, đơn vị đưa ông ra miền Bắc để điều trị thương (lần 2) và tham gia lớp chỉnh quân, chỉnh huấn, hiệp đồng quân binh chủng. Sau khóa học, ông được điều về Bộ Tư lệnh Quân khu Hữu Ngạn, tiếp tục tham gia chiến đấu và chuẩn bị cuộc Tổng tấn công giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Năm 1978 chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra, một lần nữa ông tạm biệt gia đình, người thân, cùng các đơn vị Bộ CHQS tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng lên đường. Gần 2 năm xông pha trên chiến trường K, nhận thấy ông có trình độ, kinh nghiệm thực tế, cấp trên điều ông về nước làm Chính ủy Trung đoàn 885 (Bộ CHQS tỉnh Quảng Nam) để huấn luyện chiến sĩ, tiếp tục tăng cường quân tình nguyện sang giúp nước Bạn Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng Pôn – pốt. Sau đó, ông đầu quân về Phòng Tuyên huấn Quân khu, rồi làm Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 173 , sau đó làm Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tham mưu Quân khu 5.
Một đóa hoa giữa đời thường
Trải dài 2 cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ và chiến tranh biên giới, bảo vệ Tổ quốc; từ chiến sĩ đến chỉ huy, bất cứ nơi đâu, việc gì ông đều không cho phép mình tự mãn, lỏng lơi, mất cảnh giác và bất kỳ sự yếu mềm. Vì thế có lần, hay tin người em trai là Nguyễn Thanh Hùng, tham gia trận đánh vào Đài phát thanh Sài Gòn trong Chiến dịch Mậu Thân, bị thương nặng, nhưng ông vẫn cố giấu nước mắt để chỉ huy bộ đội. Kể cả khi cha, mẹ quy tiên nhưng vì “việc quân”, ông không về báo hiếu, chịu tang. Rồi chứng kiến bao đồng chí, đồng đội, chiến sĩ mình ngã xuống trong từng trận đánh… Chính lẽ đó, trong sinh hoạt, ông là người anh gần gũi, vui vẻ, thân thiện, hoà đồng, thương yêu chiến sĩ, sống hết mình vì anh em. Nhưng khi đứng trước hàng quân, ông tỏ rõ là chỉ huy cương nghị, năng lực thao lược, kỷ luật, kỷ cương.
Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước, Quân đội giao phó, Đại tá Nguyễn Trí Tổng về với đời thường. Chỉ sau một ngày làm “tỉ phú thời gian”, Hội Cựu chiến binh tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng đã vận động ông làm Uỷ viên Ban Thường vụ Hội. Bối cảnh năm đất nước những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, đời sống quân nhân, cựu chiến binh còn gặp nhiều khó khăn. Bản chất người lính Cụ Hồ tỏ rõ trong ông qua những lần gặp gỡ, giao lưu, thăm hỏi, chăm nom, động viên đồng chí, đồng đội vươn lên trong cuộc sống.
Hơn 35 năm hội viên CCB và là Phó Chủ tịch Hội CCB thành phố Đà Nẵng, ông còn là thành viên Hội nạn nhân chất độc màu da cam, Vì sự nghiệp ANTQ, Vì sự nghiệp Dân sinh, công tác dân vận, công tác tư tưởng văn hoá; tham gia các buổi nói chuyện lịch sử, giáo dục truyền thống cho các trường học, cơ quan… Ở tuổi “xưa nay hiếm” nhưng Đại tá Nguyễn Trí Tổng vẫn đau đáu nỗi niềm với đồng đội. Hễ nghe tin có người ốm đau, tai nạn, tử tuất ông đều tìm đến tận nơi, chia sẻ, động viên thân nhân họ và nặng lòng với đồng đội còn nằm lại trên chiến trường. Nhiều lần ông chỉ dẫn, giúp lực lượng chuyên trách, thân nhân gia đình liệt sĩ tìm thấy hài cốt liệt sĩ và hỗ trợ chăm lo hậu sự, đưa về quê an táng.
Nói về đời tư, ông như sống lại tuổi thanh xuân, vui vẻ kể: Năm 1968, phải lòng với chàng sĩ quan trẻ Nguyễn Trí Tổng, cô gái Trần thị Lan, quê ở Nghệ An chạy theo tiếng sét ái tình, bỏ lở cơ hội đi du học nước ngoài để xây dựng mái ấm cùng ông. Đẹp mối lương duyên giữa 2 người đã sinh hạ được 3 người con (1 trai – 2 gái) … Tin tưởng vào một ngày đất nước tất thắng, đứa con trai đầu ông đặt tên là Nguyễn Thành Công. Người con gái thứ hai ông đặt tên ghép từ 2 dòng sông Thu Bồn (Quảng Nam) và Sông Lam (Nghệ An) – Thu Lam và cô con gái út mang tên 2 dòng sông Thu Bồn và Sông Hồng là Thu Hồng. Đâu chỉ thay chồng chăm con, khi ở miền Bắc bà là cán bộ Ngân sách – Tài chính K15 thuộc Ban thống nhất Trung ương. Đất nước thống nhất, theo chồng hồi hương vào Đà Nẵng công tác tại Ban tuyên giáo tỉnh ủy Quảng Nam – Đà Nẵng sau đó về hưu. Bà luôn tỏ rõ là một nội tướng “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” để chồng yên tâm chiến đấu.
Huy hiệu 65 năm tuổi Đảng, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất, Nhì, Ba cùng nhiều huân, huy chương cao quý khác; 4 Bằng khen Chiến sĩ thi đua, 2 Dũng sĩ Quyết thắng, 1 Dũng sĩ diệt Mỹ và 7 kỷ niệm chương trên các lĩnh vực công tác là ghi nhận những chiến công, thành tích của Đảng, Nhà nước, Quân đội, các ngành dành cho Đại tá Nguyễn Trí Tổng – người con đất Điện Bàn anh hùng.



