ĐẠI TÁ NGUYỄN VĂN DẦN - GÁC VIỆC RIÊNG, LO MỆNH NƯỚC
*LỜI NÓI ĐẦU
Hòa bình mà chúng ta đang có ngày hôm nay, đã được đánh đổi bằng cả thanh xuân, bằng xương máu và cả những nỗi đau thầm lặng của các thế hệ đi trước. Ngắm nhìn đất nước Việt Nam ta hòa bình hạnh phúc, lòng em lại nhớ về những người lính đã ngã xuống khi tuổi đời còn đôi mươi, về những người mẹ Việt Nam anh hùng đã nén đau thương để tiễn con ra trận. Lòng biết ơn không chỉ là những đóa hoa dâng lên đài tưởng niệm, mà còn là sự thấu hiểu sâu sắc rằng, mỗi ngày em được đến trường trong nền độc lập tự do đều mang hình bóng của sự hy sinh cao cả ấy. Trân trọng quá khứ chính là cách để thế hệ trẻ chúng em sống trách nhiệm hơn, quyết tâm gìn giữ và dựng xây đất nước ngày càng giàu đẹp, xứng đáng với những gì cha ông đã gây dựng.
Đến với cuộc thi “Câu Chuyện Thời Hoa Lửa”, em xin mang đến cho mọi người câu chuyện về một đám cưới đặc biệt, một đám cưới “không chú rể” của Đại tá Nguyễn Văn Dần cùng người vợ của ông, bà Nguyễn Thị Thường.
Đại tá Nguyễn Văn Dần sinh năm 1950, quê ở thị trấn Nghèn huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Ông nhập ngũ tháng 1 năm 1969. Từ năm 1971 đến năm 1973, ông được cử đi học sĩ quan tại Trường Quân chính Quân khu 4 và Trường Sĩ quan Lục quân. Tháng 4 năm 1973, ông được điều về công tác tại Sư đoàn 341 Quân khu 4. Tháng 12 năm 1974, cùng với đơn vị, ông nhận nhiệm vụ chuẩn bị Nam tiến giải phóng Sài Gòn.
Vợ của Đại tá Nguyễn Văn Dần là bà Nguyễn Thị Thường, sinh năm 1950, là người cùng quê với ông. Cuối năm 1974, bà Thường đang là cán bộ thủy lợi ở Ninh Bình. Sau 5 năm yêu nhau và chờ đợi, đầu tháng 2 năm 1975, được sự đồng ý của 2 đơn vị, ông Dần và bà Thường quyết định về quê tổ chức đám cưới. Thế nhưng, chú rể bỗng dưng “mất tích” khi chuẩn bị lễ rước dâu.
Đại tá Nguyễn Văn Dần cùng vợ ông, bà Nguyễn Thị Thường. Ảnh: Tuổi Trẻ Online
Lời cầu hôn mộc mạc mà chân thành
Ông Dần và bà Thường quen nhau được 3 năm từ năm 1967 đến năm 1969, hết cấp hai bà Thường ra Bắc học thủy lợi rồi công tác ở Ninh Bình, ông Dần học tiếp cấp ba rồi lên đường đi nhập ngũ, làm nhiệm vụ ở tỉnh Bolikhamxay, Lào.
Đến năm 1971, ông về Việt Nam đi học Trường Quân chính Quân khu 4, sau đó học ở Trường Sĩ quan lục quân. Đến năm 1973, ông về sư đoàn 341.
Suốt hai năm biền biệt không một cánh thư, tình cảm tưởng chừng đứt quãng, cho đến một lần đi chiến đấu từ Lào về, ông Dần qua nhà bố mẹ bà Thường hỏi thăm. Từ đó ông mới biết địa chỉ, hai người thư từ qua lại từ ngày ấy. Mối tình của hai ông bà cứ thế lớn dần lên. Đến năm bà Thường 24 tuổi, ông Dần mới ngỏ lời: “Thôi ta về ta cưới”.
Vậy mà đến ngày cưới, ông phải gác việc riêng, vì nhiệm vụ chung mà ra trận.
Đám cưới chú rể đi mất, chỉ để lại dòng thư
Một ngày cuối tháng chạp năm 1974 âm lịch, hai người chở nhau ra thị trấn tất bật sắm sửa manh áo mới, đồ lễ cho hai bên nội ngoại. Cô dâu Nguyễn Thị Thường nhớ lúc ấy cả hai loay hoay tìm mãi chẳng có tấm vải nào mới để may bộ quần áo cưới, đành mua lấy 2 tút thuốc rồi ra về.
Mua xong, ông hỏi: “Em có về nhà anh nữa không?”, bà trả lời: “Không, anh về nhà đi, tối xuống em bàn chuyện ngày mai cưới”. Vì đã hẹn nhau xuống nhà nói chuyện vào tối nay nên ông Dần chỉ đưa bà Thường về nhà rồi trở về. Trên đường về nhà mình, ông thấy nhiều xe chở quân đi vào Nam, chưa biết là lính ở đơn vị nào thì chợt nghe tiếng gọi, rồi một chiếc xe dừng lại. Hóa ra là người quen học cùng trường. Người cán bộ gọi ông Dần lại, bảo: “Không kịp nữa, giờ anh về mang ba lô ra đi luôn”.
Nhận được lệnh vào Nam chiến đấu, ông không do dự, lập tức theo đơn vị.
“Lúc đó cũng cận tết rồi, nhưng nhiệm vụ đi là phải đi thôi. Chỉ kịp viết mấy dòng thư gửi lại. Nghĩ đến vợ, đến cha mẹ, anh em họ hàng hai bên, xưa nay đời người chỉ có một lần cưới xin mà dở dang. Suy nghĩ vấn vương nhưng vì cái chung, mình hi sinh cái riêng”, đại tá Dần kể lại.
“Tôi hoàn toàn không biết gì vì việc rước dâu đã sẵn sàng. Mãi cho tới tối hôm đó, bố mẹ ông Dần cùng vài người bên nhà trai sang nhà tôi nói chuyện, tôi mới hay tin ông ấy nhận nhiệm vụ đột xuất. Ông ấy lên đường đi chiến đấu, đường xe đi cách nhà tôi chỉ 150 mét nhưng lại không thể gặp nhau được trước lúc đi. Mẹ ông ấy gặp riêng tôi an ủi và đưa cho tôi lá thư ông ấy để lại. Lá thư chỉ vỏn vẹn có đôi lời: ‘Em thông cảm, anh phải vào Nam đánh giặc. Em nhớ giữ gìn sức khỏe’. Chiến tranh mà, lúc đó phụ nữ ai cũng sẵn sàng như thế cả, tôi cũng không buồn gì, chỉ nghĩ và lo cho ông ấy thôi” - bà Thường bồi hồi nhớ lại chuyện xưa.
Đám cưới của ông Dần và bà Thường vẫn diễn ra như ấn định. Ông đi vào Nam, ở nhà mọi việc vẫn được tổ chức. Một đám cưới không chú rể, không có manh áo mới, cô dâu được rước về nhà trai.
Ngày về thăm vội vã
Về đến ngõ có tục cất nón cho cô dâu, cả nhà ai nấy đều khóc, cô dâu còn động viên lại mọi người: “Thôi nhiệm vụ anh cứ đi, mình cưới cứ cưới thôi. Có những đám cưới rước vợ về buổi chiều thì chồng đi ngay trong đêm, chiến tranh là vậy, con không sao cả”.
Ở nhà chồng được 1 ngày thì bà Thường trở về nhà bố mẹ đẻ “lại mặt”, bà xin bố mẹ chồng ở lại chơi ít ngày. Đó là những ngày cận tết Ất Mão năm 1975.
Về phía ông Dần, mất một ngày một đêm, đơn vị đến huyện Lệ Thủy, Quảng Bình. Nhưng trên chuyến xe giao nhận quân 45 năm về trước đó, một thủ trưởng là chính ủy trung đoàn đã chứng kiến từ đầu đến cuối câu chuyện của anh đại đội trưởng bộ binh trẻ tuổi.
Sau khi nhận hồ sơ bàn giao quân xong, chính ủy trung đoàn báo cáo với Bộ tư lệnh sư đoàn “có trường hợp đồng chí Dần ở nhà đang tổ chức đám cưới nhưng sau khi nhận nhiệm vụ là lên đường ngay, giờ xin giải quyết cho đồng chí về nhà”.
“May mắn nữa lúc ấy có sư đoàn phó, hồi đó gọi phó tư lệnh, là ông Vũ Cao ở Hà Nội được đơn vị cho về nhà ăn tết. Vừa được gặp là trung đoàn giới thiệu cho mình theo xe phó tư lệnh về luôn. Chiều 29 tết xuất phát, sáng 30 tết tôi về đến nhà. Chỉ huy cho tôi được về phép 4 ngày rồi quay vào. Vì thế mà chúng tôi mới có đêm tân hôn trước khi ra trận”, đại tá Dần kể lại.
Bà Thường nhớ lại ngày hôm đó: “4 ngày sau đám cưới, hôm mùng 1 tết, em trai của ông Dần đạp xe xuống nhà tôi. Vừa gặp tôi ở sân, chú ấy đã vội vã: Chị về đi. Anh Dần về rồi. Tôi ngớ ra không tin. Chú ấy bảo: Anh về đêm qua nhưng mệt quá không xuống đón chị được. Nửa tin nửa ngờ không biết có chuyện gì, tôi vội vã chào bố mẹ rồi về nhà chồng. Trên đường, tôi cứ nghĩ có chuyện gì mà anh ấy bị đơn vị trả lại?”.
Trong 5 ngày phép ngắn ngủi, ông Dần động viên, chia sẻ cho vợ yên tâm. Hết thời gian nghỉ phép, ông Dần chia tay vợ để tiếp tục lên đường nhận nhiệm vụ vào Nam chiến đấu.
Hình bóng hậu phương tiếp lửa vững tay cầm chắc súng
Ngày 14 tháng 2 năm 1975, ông Dần cùng các đồng đội xách ba lô Nam tiến. Đại đội đi vào Tây Nguyên, qua Bình Long, Phước Long, ác liệt nhất phải kể đến trận chiến Xuân Lộc.
Đánh suốt 12 ngày đêm, trong đó sư đoàn có 4 ngày đối đầu trực tiếp với Quân lực Việt Nam cộng hòa. “Cánh cửa thép” Xuân Lộc mở toang, mở đường cho quân ta tiến vào giải phóng Sài Gòn, thống nhất đất nước.
Tiếp đó, đêm 26, rạng sáng 27 tháng 4, đơn vị ông đánh tiếp vào khu vực Trảng Bom, Đồng Nai. Chỉ vọn vẹn 1 ngày, ta đã giải phóng được Trảng Bom, mở màn cho chiến dịch Hồ Chí Minh hướng Đông bắc Sài Gòn.
Đánh trận Xuân Lộc đơn vị biên chế vẫn đủ, nhưng khi vào đến Sài Gòn tổn thất khá lớn. Những người bị thương nặng được chuyển về tuyến sau, riêng ông Dần bị một mảnh pháo găm vào đùi, một mảnh ở sau gáy vẫn cố gắng vào đến Sài Gòn.
“Bị thương, đầu quấn băng trắng vẫn vô Sài Gòn. Hồi đó có lẽ kháng thể tốt, 21 ngày tiến vào Sài Gòn chỉ mặc một bộ quần áo trên người, ở đâu có nước mới tắm, khói bom đạn, mang vết thương vậy mà không bị nhiễm trùng. Mình bị thương về tuyến sau cũng được nhưng lúc đó háo hức lắm, chỉ muốn làm sao thực hiện được nhiệm vụ trên giao xuống là phải vào được Sài Gòn”, ông Dần kể.
Vững niềm tin người ở lại
Sau ngày chia tay với ông Dần, bà Thường trở về cơ quan mình ở Ninh Bình để tiếp tục công việc. Từ hôm đó cho đến sau ngày giải phóng, bà không nhận được tin tức gì về chồng. Nhưng trong tâm tư bà luôn giữ một lòng vững tin ông sẽ trở về.
Cho đến đêm ngày 26 tháng 4 năm 1975, bà Thường chợt mơ một giấc mơ hãi hùng về chồng. Bà kể: “Đêm đó đang ngủ thì tôi mơ thấy ông ấy chiến đấu và hy sinh. Tỉnh dậy, tôi khóc như mưa đến nỗi làm cả khu tập thể cán bộ náo loạn. Ai cũng chạy sang hỏi han tôi xem có chuyện gì. Nghe kể lại, mọi người đều hiểu và thông cảm cho tôi. Một chị đồng nghiệp người Ninh Bình an ủi: Mơ dữ là điềm lành, anh ấy sẽ tai qua nạn khỏi, khi ấy tôi mới bình tâm trở lại...”.
Suốt bấy lâu không một thư từ tin tức, mãi hơn một tháng sau ngày giải phóng 30 tháng 4, bà Thường mới nhận được một bức thư chồng gửi về. Thư chỉ vỏn vẹn một dòng: “Anh đang bận quân quản, chưa về được!”.
Đằng đẵng nhiều năm trời chồng đi chiến đấu, từ giải phóng Sài Gòn, rồi đánh Polpot ở Tây Nam, một tay bà chăm bẵm các con lớn khôn. Hai đứa con đầu không biết mặt cha, đến khi bà đẻ đứa thứ ba, ông mới về.
Ngày đại thắng thống nhất hai miền
Khoảng 2 giờ chiều ngày 30 tháng 4, ông Dần cùng đơn vị vượt sông Sài Gòn, tập kết tại Tân Cảng, sau đó tiến vào dinh Độc Lập. Trước đó, quân đoàn 2 của ta đã giải phóng, chốt giữ được dinh, đơn vị chuyển sang làm nhiệm vụ chốt tại 3 đường Võ Tánh.
“Vào đến Sài Gòn, từng đoàn lính Việt Nam cộng hòa cởi bỏ hết tư trang, áo, mũ, súng vứt chất đống, rải trên trục đường 1 và xa lộ, mình trần đi ngược trở ra.
Khi vượt qua cầu Sài Gòn đi vào trung tâm thành phố, người dân đổ ra đường đón đông lắm, đông đến không đi được. Từ Tân Cảng vào dinh Độc Lập khoảng 3 - 4km mà đơn vị tôi mất 3 tiếng để vào”, đại tá Dần nhớ lại.
Trở về khi đã trọn nghĩa với nước non
Ông Dần đã trở về sau những chiến công hiển hách. “Đó là khoảng thời gian các trận đánh ác liệt nhất trong cuộc chiến. Từ ngày mùng 9 đến ngày 30 tháng 4, trong vòng 21 ngày, chúng tôi không có giây phút nào nghỉ ngơi, lúc cả đơn vị tiến vào Dinh Độc Lập, người nào người nấy áo quần nhuốm dày mồ hôi và bụi đất.”
“Chúng tôi đã thoát qua súng đạn kẻ thù để giành chiến thắng cuối cùng, nhưng phía sau có bao đồng đội đã ngã xuống. Chúng tôi luôn nhớ thương và cảm ơn về sự hy sinh của họ” - Đại tá Nguyễn Văn Dần kể.
Sau lần “cưới hụt”, cũng chẳng có lấy bức ảnh cưới, ông Dần lấy ảnh của bà đương thời con gái ghép với ảnh của ông ngày trẻ, thế là có bức ảnh cưới. “Sau này ông nhà tôi nói với tôi là do cưới hụt mới về được, chứ đánh ở trong ác liệt lắm”, bà Thường nói.
Một Đảng viên, một Sĩ quan, một Công dân mẫu mực
Đại tá Nguyễn Văn Dần vẫn luôn nhớ về quyết định của bản thân ngày ra trận: “Thương bà ấy nhiều lắm, nhưng mình phải cân nhắc. Nói về Đảng là một Đảng viên, nói về quân đội là sĩ quan, nói về đất nước là công dân. Trong điều kiện để thực hiện lý tưởng bảo vệ Tổ quốc, mình phải biết đặt cái nào lên trước. Cái lớn, cái chung phải đặt lên trước, mình nghĩ nếu ngày ấy không đặt việc chung lên trước, có lẽ sau này mình sẽ khác đi rồi.”
Đại tá Nguyễn Văn Dần nghỉ hưu vào năm 2008. Vợ chồng ông có 3 con trai và tất cả đều thành đạt. Bao nhiêu năm đất nước thống nhất là bấy nhiêu năm ông bà trọn vẹn nghĩa tình.
Bao nhiêu năm đất nước thống nhất là bấy nhiêu năm ông bà trọn vẹn nghĩa tình.
Ảnh: Báo Hà Tĩnh
* TÀI LIỆU THAM KHẢO
- “Xúc động chuyện tình người lính giải phóng quân Hà Tĩnh”, tác giả Thiên Vỹ, Báo Hà Tĩnh, 2020.
-“Đám cưới không chú rể 45 năm trước ở Can Lộc anh hùng”, tác giả Hà Thanh, 2020.
- Video ca nhạc “Trái tim giữa bầu trời”, nhạc sĩ Trịnh Đình Quang, 2024.



