ĐẠI TÁ PHẠM NGỌC THẢO: NHÀ TÌNH BÁO HÀNH ĐỘNG HUYỀN THOẠI VÀ SỨ MỆNH ĐẶC BIỆT CHƯA TỪNG CÓ TIỀN LỆ
Đại tá Phạm Ngọc Thảo (1922–1965), tên thật là Albert Phạm Ngọc Thuần, là nhà tình báo chiến lược huyền thoại của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông sinh tại Long Xuyên trong gia đình Công giáo trí thức giàu có, từng thăng tiến và giữ chức vụ cao trong chính quyền Việt Nam Cộng hòa trước khi hy sinh năm 1965

1. Từ vị công tử nhung lụa đến ngọn cờ cách mạng
Trong dòng chảy trầm hùng của lịch sử Tình báo Quốc phòng Việt Nam, có những cuộc đời mà sự cống hiến thầm lặng chỉ thực sự được ánh sáng thời gian soi rọi trọn vẹn nhiều năm sau khi họ đã ngã xuống. Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Đại tá Phạm Ngọc Thảo (tức Phạm Thao) là một biểu tượng kiệt xuất như thế — một nhân cách tình báo hành động độc nhất vô nhị trên chiến trường miền Nam.
Sinh ngày 14-2-1922 tại Long Xuyên (Vĩnh Long) trong một gia đình trí thức Nam Bộ thuộc tầng lớp điền chủ giàu có nổi tiếng, Phạm Ngọc Thảo xuất thân từ một bệ phóng gia giáo hoàn hảo. Thân sinh của ông là cụ Phạm Ngọc Thuần — một kỹ sư trắc địa mang quốc tịch Pháp. Hầu hết anh chị em trong gia đình ông đều du học tại Pháp, trở thành những bác sĩ, kỹ sư, luật sư danh giá. Thế nhưng, giữa nhung lụa và đặc quyền xã hội thời thuộc địa, trái tim của Phạm Ngọc Thảo cùng các anh chị em lại đồng điệu nhịp đập với nỗi đau mất nước và khát vọng tự do của dân tộc.
Tháng 8-1945, ông dấn thân vào phong trào cướp chính quyền tại Sài Gòn. Ngay khi thực dân Pháp nổ súng quay lại xâm lược Nam Bộ, Phạm Ngọc Thảo đã đưa ra một quyết định mang tính bước ngoặt: Tuyên bố hủy bỏ quốc tịch Pháp, rời bỏ cuộc sống đô thành để dấn thân vào cuộc kháng chiến trường kỳ.
Đầu năm 1946, ông được tổ chức tin tưởng cử ra miền Bắc theo học Khóa I Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn (Trường Sĩ quan Lục quân I). Rời mái trường quân sự chính quy đầu tiên của cách mạng, ông trở lại địa bàn Nam Bộ, trực tiếp chiến đấu tại Khu 8 và Khu 9. Đến cuối năm 1947, trên giao ông đảm nhiệm trọng trách Trưởng phòng Mật vụ Nam Bộ. Với tư duy tổ chức sắc bén, chỉ trong một thời gian ngắn, ông đã thống nhất thành công các lực lượng tình báo Nam Bộ đang hoạt động phân tán. Sang năm 1949, ông chuyển sang làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 410 chủ lực Khu 9, trực tiếp chỉ huy nhiều trận đánh lớn, lập nên những chiến công vang dội, góp phần mở rộng và củng cố vững chắc vùng giải phóng.
2. Nhiệm vụ chiến lược độc lập tác chiến: Tình báo hành động
Sau Hiệp định Geneva năm 1954, lịch sử cách mạng miền Nam bước vào giai đoạn thử thách cam go nhất. Đích thân đồng chí Lê Duẩn đã trực tiếp giao nhiệm vụ đặc biệt cho Phạm Ngọc Thảo: Ở lại miền Nam, thâm nhập sâu vào tầng lớp lãnh đạo cấp cao của chính quyền Sài Gòn nhằm phục vụ các yêu cầu tình báo chiến lược cho mục tiêu thống nhất đất nước. Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt về sau đã đưa ra nhận định sâu sắc: Đại tá Phạm Ngọc Thảo đã gánh vác một nhiệm vụ đặc biệt chưa từng có tiền lệ trong lịch sử cách mạng Việt Nam.
Phát biểu về nét đặc thù mang tính bản chất trong sứ mệnh của ông, Đại tá Hà Ngọc Quỳnh (nguyên Viện trưởng Viện 501, Tổng cục II - Bộ Quốc phòng) phân tích:
"Tình báo thế giới nói chung có 2 chức năng: Tin tức và hành động. Tình báo hành động thể hiện ở những hoạt động chia rẽ, gây rối nội bộ địch, làm cho nội bộ địch không ổn định; gây khó khăn cho địch để chúng không thực hiện được ý đồ, kế hoạch đã được vạch ra; bảo vệ ta; và trực tiếp đánh địch. Phạm Ngọc Thảo là một trong số ít cán bộ chỉ thực hiện nhiệm vụ hành động là chủ yếu."
Đồng quan điểm trên, Đại tá Đào An Việt (Phó chủ nhiệm Chính trị Tổng cục II - Bộ Quốc phòng) nhấn mạnh ba điểm biệt xuất làm nên huyền thoại Phạm Ngọc Thảo:
Bản chất nhiệm vụ: Không thuần túy là thu thập tin tức như các điệp báo viên thông thường, mà là "chui sâu, leo cao", gây rối loạn và tác động làm thay đổi chế độ chính trị nội bộ đối phương.
Cơ chế chỉ đạo: Hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Lê Duẩn chứ không qua các cấp tổ chức hay cơ quan tình báo thông thường.
Phương thức tác chiến: Độc lập tác chiến, đơn độc vận động giữa lòng kẻ thù.
Để hoàn thành sứ mệnh "thay đổi chế độ" tại miền Nam, nhà tình báo đòi hỏi phải tụ hội đủ hai yếu tố cốt tử: Khả năng hành động (có vị thế xã hội, có lực lượng, có năng lực tổ chức chỉ huy) và Độ tin cậy (được cả phía ta lẫn chính quyền đối phương tuyệt đối tin dùng). Phạm Ngọc Thảo đã cùng đồng chí Mười Hương (Trần Quốc Hương — nguyên Trưởng ban Nội chính Trung ương, khi đó công tác tại Ban Đặc tình Xứ ủy) vạch ra đường hướng, phương thức vận động và tuyến liên lạc bí mật tại Sài Gòn. Tận dụng triệt để thế lực của một gia đình trí thức danh gia, mang đạo Thiên Chúa và có mối quan hệ thân cận với gia đình họ Ngô, Phạm Ngọc Thảo chính thức bước vào cuộc cờ sinh tử.
3. Lập ngôn giữa rừng gươm vạn giáo: Côn quyền và tư tưởng
Nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng (nguyên Phó ban Tuyên huấn Trung ương Cục) từng đúc kết về bản lĩnh của Đại tá Phạm Ngọc Thảo: "Đi thẳng vào hàng ngũ kẻ thù, tung hoành hoạt động vì Tổ quốc cho tới tận lúc hy sinh, trường kỳ mai phục và độc lập tác chiến".
Năm 1956, dưới danh nghĩa sĩ quan Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông mang quân hàm Đại úy và được bổ nhiệm giữ chức Tỉnh trưởng Bảo an Vĩnh Long. Đến năm 1957, ông xuất hiện với một vai trò đầy bất ngờ: Thành viên sáng lập và nằm trong Ban Biên tập Tạp chí Bách khoa — một ấn phẩm lý luận, văn hóa, chính trị có uy tín lớn tại Sài Gòn thời bấy giờ.
Bằng cây bút sắc bén của một nhà chiến lược quân sự giàu kinh nghiệm thực chiến, Phạm Ngọc Thảo đã liên tục công bố hàng loạt bài viết lý luận sâu sắc:
Thế nào là một quân đội mạnh? (Bách khoa số 1)
Đánh giặc mà không giết người (Bách khoa số 2)
Một số ý kiến về lãnh đạo tinh thần một đơn vị quân đội (Bách khoa số 4)
Vấn đề kinh tế tự túc trong quân đội (Bách khoa số 5-6)
Lực lượng quân sự cơ động và lực lượng địa phương (Bách khoa số 13)
Quân đội và nhân dân (Bách khoa số 14)
Quân đội bình định đem lại bình an hay oán hận (Bách khoa số 16)
Quan niệm về quân sự hiện đại (Bách khoa số 17)
Những bài viết ấy chứa đựng tri thức quân sự uyên bác, khéo léo ca ngợi chiến công chống ngoại xâm và bản chất vì dân vì nước của Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ chống Pháp, đồng thời công khai lên án những hành vi phi nghĩa của một quân đội phản nhân dân. Các bài báo của ông lập tức thu hút sự chú ý đặc biệt từ giới quân sự, giới chính trị Sài Gòn lẫn các cơ quan tình báo nước ngoài, bao gồm cả các điệp viên CIA.


