Khác

Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc (1)

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc là một thắng lợi vĩ đại của dân tộc ta, mở ra khả năng hoà bình thống nhất đất nước. Sau 9 năm chiến đấu đầy hi sinh, gian khổ, hớn ai hết, nhân dân ta có nguyện vọng tha thiết được sống trong hoà bình và thống nhất Tổ quốc. Trong những năm từ 1950 đến 1954, trên thực tế, nhân dân ta đã phải tiến hành cuộc chiến tranh không chỉ với Pháp mà cả với Mỹ. Kinh nghiệm cho chúng ta thấy sức mạnh kinh tế, quân sự và cả sự tàn bạo, nguy hiểm của đế quốc Mỹ.

Lai Châu02/07/2026công an nhân dân (xã sìn hồ)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
Chính đế quốc Mỹ đã đẩy nhân dân ta vào tình thế không có sự lựa chọn nào khác, không còn con đường nào khác là phải chiến đấu. Không chiến đấu chống Mỹ sẽ không thể hoàn thành được sự nghiệp thiêng liêng giải phóng Tổ quốc, mà sẽ có nguy cơ hoặc mất nước, hoặc đất nước bị chia cắt lâu dài. Vì thế chúng ta phải chấp nhận một cuộc chiến đấu mới. Đây là cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc chống sự xâm lược tàn bạo và những mưu đồ thâm độc của đế quốc Mỹ vì quyền lợi tối cao, sự mất còn của dân tộc ta và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước mà đỉnh cao chói lọi là Chiến thắng lịch sử mùa Xuân 1975 đã bảo vệ được nền độc lập của dân tộc, hoàn thành trọn vẹn sự nghiệp thống nhất đất nước, thu non sông về một mối, khởi đầu một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc: Kỷ nguyên của nước Việt Nam độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội; Kỷ nguyên của nước Việt Nam thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. Đây là một trong những sự kiện lớn nhất không chỉ trong lịch sử ngàn năm của dẫn tộc ta, mà còn của lịch sử nhân loại thế kỷ XX.


Xác định tầm vóc to lớn, ý nghĩa thời đại của sự kiện lịch sử này, tìm ra nguyên nhân dân đến thắng lợi của quân và dân ta, tổng kết những bài học kinh nghiệm sâu sắc... của đâu tranh và chiến thắng là nguyện vọng cũng là trách nhiệm, của các thế hệ người Việt Nam, không chỉ để khẳng định quá khứ anh hùng mà còn thể hiện lòng biết ơn cha anh, như chính các tác giả của công trình này đã tâm niệm rằng: "Thế hệ chúng ta và mai sau vẫn cần tiếp tục nghiên cứu, khám phá, vận dụng vào hoạt động quân sự, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc".


Sau khi trình bày tiến trình cuộc đối đầu chiến lược từ chiến tranh đặc biệt đến chiến tranh cục bộ và Việt Nam hoá chiến tranh dẫn tới thắng lợi từng bước, ngày càng to lớn của quân dân ta, thất bại ngày càng nặng nề của đế quốc Mỹ và tay sai, các tác giả đã phân tích, đánh giá các sự kiện từ khởi đầu đến trận quyết chiến chiến lược cuối cùng - Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân 1975. Với tầm nhìn của những người trong cuộc, sỹ quan quân đội, cán bộ giảng dạy, nghiên cứu khoa học quân sự. Công trình cũng đã trình bày sáng rõ, với những sự kiện lịch sử cụ thể, chuẩn xác, sự hình thành, phát triển và những chiến công to lớn của những binh đoàn, những cánh quân thần tốc trong Chiến dịch Hồ Chí Minh.


Cùng với những cố gắng nhìn cuộc chiến tranh một cách tổng thể, toàn diện, phát huy thế mạnh của mình, các tác giả của công trình đã tập trung phân tích, làm rõ những vấn đề chiến lược, về nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh, về nghệ thuật quân sự và nghệ thuật chiến dịch của chiến tranh nhân dân Việt Nam.


Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta là một kỳ tích, còn nhiều giá trị và ý nghĩa tiềm ẩn trong sự kiện lịch sử đó. Cần sự nối tiếp nhau của nhiều thế hệ để tìm hiểu giá trị và ý nghĩa của sự kiện này. Mặc dầu không tránh khỏi những nhược điểm và thiếu sót, song công trình này như là một nỗ lực của quá trình chạy tiếp sức để khám phá và phát hiện tầm vóc, ý nghĩa và những giá trị lịch sử của cuộc kháng chiến chống Mỹ vĩ đại của dân tộc ta.

Với ý nghĩa đó, tôi vui mừng giới thiệu với bạn đọc công trình này.


Đại tá, PGS, TS. ĐINH XUÂN DŨNG

Logged

vnmilitaryhistory

Moderator
*
Bài viết: 2626


Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc« Trả lời #1 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2021, 05:23:32 pm »
PHẦN I
Những cuộc đối đầu chiến lược


I. Chiến tranh đạc biệt

Vào thời điểm những năm cuối của thập kỷ năm mươi, trên thế giới nổi lên ba điểm nóng: Trung Đông, Cu Ba, Việt Nam. Song, ở Trung Đông, mặc dù có những cuộc chiến tranh giữa các nước Arập với Ixraen, nhưng các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở đó do giai cấp tư sản dân tộc lãnh đạo. Lợi ích của các nước đế quốc, các công ty tư bản độc quyền ở vùng này không bị đe doạ. Mặt khác, Ixraen đồng minh của Mỹ - đủ mạnh để ngăn chặn phong trào cách mạng ở Trung Đông thay Mỹ, cho nên Hoa Kỳ chưa can thiệp trực tiếp, ở Cu Ba, bị thất bại trong vụ đưa quân đánh tHuế xâm lược Cu Ba ở vịnh Con Lợn tháng 4-1961 và cuộc khủng hoảng tên lửa ở vùng Caribê tháng 10- 1962. Mỹ buộc phải cam kết không xâm lược Cu Ba để đổi lấy việc Liên Xô rút tên lửa khỏi nước này; âm mưu của Mỹ là dùng phong toả, cấm vận kinh tế, kết hợp với cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt hòng làm sụp đổ Cu Ba. Ở Đông Dương, cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống Pháp, giành độc lập dân tộc và cuộc đấu tranh chống Mỹ xâm lược bằng chủ nghĩa thực dân kiểu mới đang làm suy yếu một hướng chiến lược trọng yếu trong chiến lược toàn cầu của Mỹ. Những thắng lợi của Việt Nam trong cuộc chiến chống Pháp đã góp phần làm thức tỉnh lương tri nhân loại, cổ vũ các dân tộc thuộc địa, nửa thuộc địa vùng lên đấu tranh để tự giải phóng. Việt Nam trở thành một ngọn cờ của phong trào giải phóng dân tộc, tiêu biểu cho sự kết hợp các trào lưu cách mạng của thời đại. Các nhà chiến lược Mỹ nhận định rằng có đè bẹp được cuộc kháng chiến của Việt Nam, Mỹ mới có thể đẩy lùi được phong trào đấu tranh của các dân tộc chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân. Vì vậy, Việt Nam trở thành trọng điểm trong chính sách ngăn chặn của Mỹ - nơi diễn ra cuộc đụng đầu lịch sử giữa hai hệ thống đế quốc chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa.


Hòng biến Việt Nam thành một con đê ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản ở phía Đông Nam châu Á, trong sáu năm kể từ năm 1953 đến năm 1960, Mỹ đã dựng lên ở miền Nam chính quyền Ngô Đình Diệm và viện trợ cho chính quyền ấy khoảng 2 tỷ đôla, trung bình mỗi năm 300 triệu. Số việr trợ của Mỹ đủ nuôi bộ máy Ngụy quân, Ngụy quyền để đàn áp các cuộc đấu tranh hoà bình yêu nước của nhân dân ta ở miền Nam, chuẩn bị "lấp sông Bến Hải". Với chiêu bài "độc lập", "tự do", cùng với viện trợ tương đối dồi dào, Mỹ che đậy một phần bộ mặt xâm lược thực dân của chúng, giữ cho chế độ Sài Gòn, trong những năm 1957, 1958, bề ngoài có vẻ ổn định. Mỹ hy vọng sẽ hoàn tất chương trình bình định miền Nam trong một vài năm tiếp theo, rồi chuyển sang thực hiện kế hoạch khai thác, kinh doanh. Điều hoàn toàn bất ngờ đối với Mỹ là tình hình miền Nam tưởng chừng như đang "biển lặng sóng yên", thì năm 1960, nhân dân ta đồng loạt nổi dậy, đánh sập bộ máy cai trị của địch ở nhiều vùng nông thôn thuộc các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, miền Đông Nam Bộ và một số vùng của các tỉnh Khu V, Tây Nguyên. Cuộc đồng khởi thắng lợi làm tiêu tan hy vọng của Mỹ, làm lộ rõ bộ mặt tay sai bán nước của tập đoàn Ngô Đình Diệm, tạo ra một bước ngoặt làm thay đổi cục diện chiến lược ở miền Nam Việt Nam có lợi cho cách mạng. Chủ nghĩa thực dân đứng trước nguy cơ tan rã. Giữa lúc đó vào năm 1959-1960 tình hình ở Lào có nhiều biến động. Theo các yêu cầu của Lào, khởi đầu là tiểu đoàn Pathét Lào tiếp đến là Coongle - Bộ trưởng bộ quốc phòng trong chính phủ Vương quốc Xuyanaphuma, tiếp nữa là chính phủ ba phái do hoàng thân Xuyanaphuma làm thủ tướng, Việt Nam liên tiếp phái Quân tình nguyện sang giúp bạn Lào tiến công giải phóng thị xã Sầm Nưa; Cánh Đồng Chum, Noọng Hét (Xiêng Khoảng), Thị xã Phong Xa Lỳ, Nậm Bạc, Bản Ban, Tha Viềng, Vang Viêng, Tha Thơm, Mường Hiềm, Pa Thí. Chính phủ liên hợp Lào yêu cầu Liên Xô, Trung Quốc viện trợ. Liên Xô đưa sang một Trung đoàn không quân và lập cầu hàng không để tiếp tế cho Lào, Trung Quốc giúp vũ khí bộ binh. Trước tình hình đó, Mỹ định đưa 30.000 quân chiến đấu của các nước trong hiệp uớc SEATO vào "bảo vệ" Đông Dương theo kiến nghị của Ngoại trưởng Đin Raxcơ, nhưng Anh và Pháp không ủng hộ. Tình hình cách mạng Đông Dương, đặc biệt ở Việt Nam phát triển mạnh theo chiều hướng bất lợi đối với Mỹ-Ngụy1 (Trong Nhìn lại quá khứ..., Mắc Namara kể lại rằng, ông đã nói với Kennơđi: "Trước khi có bất cứ cam kết gì ở Đông Dương, nên cân nhắc, so sánh Lào với các vấn đề thế giới khác". Cụ thể Mắc Namara cho biết, lúc bấy giờ, vấn đề Béclin đã căng thẳng đến mức Bộ Quốc phòng Mỹ "đang dự tính chuyển 6 sư đoàn (khoàng 90.000 quân chiến đấu) đến châu Âu". Nếu thế, "không thể tưởng tượng được rằng Mỹ lại có khả năng làm như vậy và tiến hành một cuộc chiến ở Đông Nam Á mà không có cuộc tổng động viên"). Cùng vào thời điểm này, chiến lược quân sự toàn cầu trả đũa ồ ạt tượng trưng cho sức mạnh của Mỹ cùng với những chính sách và biện pháp để thực hiện chiến lược đó đã không ngăn chặn được sự lớn mạnh của các nước xã hội chủ nghĩa - nhất là Liên Xô, Trung Quốc và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Tình hình Béclin và Cônggô căng thẳng. Cuộc chạy đua vũ trang giữa Mỹ và Liên Xô diễn ra gay gắt. Liên Xô vượt Mỹ về chế tạo vũ khí hạt nhân, tên lửa đạn đạo, tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân. Điều này đặt Mỹ trước một tình thế khó khăn trước phong trào giải phóng dân tộc đang dâng lên mạnh mẽ ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh sự lớn mạnh của Liên Xô hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, chỗ dựa cho phong trào giải phóng dân tộc. Năm 1961 giữa lúc khó khăn, Kennơđi được bầu làm Tổng thống nước Mỹ thay Aixenhao.


Sau khi xem xét, đánh giá lại toàn bộ tình hình thế giới và trong nước, chính quyền Kennơđi quyết định loại bỏ chiến lược trả đũa ồ ạt vì không thể ngăn chặn nổi những cuộc chiến tranh nổi dậy (chiến tranh giải phóng), tiêu biểu là ở Việt Nam. Kennơđi quyết định thành lập Nhóm đặc nhiệm gồm các quan chức nội các mới, do Rốtnen Ginpatrích, Thứ trưởng Quốc phòng lãnh đạo, nghiên cứu, thăm dò các hướng hành động của Mỹ để đối phó với tình hình Việt Nam và thế giới. Nhóm này vạch kế hoạch hành động toàn diện gồm các biện pháp quân sự, chính trị, kinh tế, công khai và bí mật, tăng nhanh số lượng nhân viên quân sự Mỹ ở Nam Việt Nam. So sánh Việt Nam với nhiều nơi khác trên thế giới mà trọng điểm là châu Âu, với khả năng của Mỹ, Kennơđi chưa thể tự tung tự tác mà trước mắt chỉ cho phép đưa vào Việt Nam khoảng 100 đến 400 quân thuộc lực lượng đặc biệt để huấn luyện quân Ngụy; đồng thời, chấp nhận phương hướng chiến lược toàn cầu mới do Mácxoen Taylơ đề xướng: chiến lược phản ứng linh hoạt. Thực hiện chiến lược mới này, Mỹ vẫn duy trì lực lượng hạt nhân chiến lược, đồng thời phát triển lực lượng thông thường để tiến hành các cuộc chiến tranh hạn chế. Theo đánh giá của các nhà quân sự Mỹ thì việc phát triển chiến tranh hạn chế là rất có lợi, vì tránh được đụng độ với các nước lớn trong phe xã hội chủ nghĩa, nhưng lại có thể giành thắng lợi ở các nơi khác bằng cách chủ động tạo ra ưu thế trong từng cuộc chiến tranh cụ thể do Mỹ lựa chọn như cuộc chiến tranh Việt Nam.

Logged

vnmilitaryhistory

Moderator
*
Bài viết: 2626


Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc« Trả lời #2 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2021, 05:28:06 pm »
Căn cứ vào việc sử dụng lực lượng, các nhà vạch chiến lược Mỹ phân chiến tranh hạn chế thành hai hình thức:

Một là, hình thức chiến tranh đặc biệt, trong đó, dùng quân bản xứ làm lực lượng chiến lược chủ yếu, Mỹ giữ vai trò cố vấn, chỉ huy.

Hai là, hình thức chiến tranh cục bộ trong đó quân Mỹ làm lực lượng chiến lược, trực tiếp tiến hành chiến tranh ngoài lãnh thổ nước Mỹ.


Cả hai hình thức chiến tranh hạn chế trên đây là một bộ phận quan trọng hợp thành chiến lược quân sự toàn cầu phản ứng linh hoạt, được các nhà quân sự Lầu Năm Góc đánh giá là "lưỡi kiếm" tiến công sắc bén vào những nơi nguy hiểm nhất đối với "thế giới tự do".


Đế quốc Mỹ triển khai chiến lược Chiến tranh đặc biệt cuộc chiến tranh bằng quân đội Ngụy tay sai với tiền của, vũ khí và sự chỉ huy của Mỹ - nhằm đè bẹp và tiêu diệt cách mạng miền Nam. Cách mạng miền Nam từ khởi nghĩa từng phần phát triển lên chiến tranh cách mạng, kết hợp đấu tranh quân sự và chính trị song song, đánh địch bằng ba mũi giáp công trên cả ba vùng chiến lược, phát huy sức mạnh to lớn của chiến tranh nhân dân ở miền Nam để đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ và tay sai.


Từ cuối năm 1960, hình thức thống trị bằng chính quyền tay sai độc tài phát xít Ngô Đình Diệm đứng trước nguy cơ thất bại, đế quốc Mỹ có ý đồ thay đổi chiến lược, chuyển sang dùng chiến tranh đặc biệt để đối phó với cách mạng miền Nam, chiếm lại những địa bàn và vùng dân cư đã mất do cuộc đồng khỏi của ta.


Chiến tranh đặc biệt, chiến lược đầu tiên trong ba loại chiến tranh của chiến lược quân sự toàn cầu phản ứng linh hoạt của đế quốc Mỹ. Đặc điểm của chiến lược này là dùng quân đội Ngụy tay sai làm công cụ tiến hành chiến tranh. Cốt lõi của chiến lược chiến tranh đặc biệt là kế hoạch Xtalây - Taylo - còn có tên gọi là kế hoạch 3M (Man = con người + Money = tiền + Materia = vật liệu) - kế hoạch bình định miền Nam trong 18 tháng (từ giữa năm 1961 đến hết năm 1962), sau đó là kế hoạch Giônxơn - Mắc Namara bình định miền Nam trong 2 năm 1963 - 1964. Nội dung vẫn là kế hoạch Xtalây - Taylo có sửa đổi và nâng cao mức độ quyết liệt.


Mỹ, Diệm coi việc lập ấp chiến lược là "quốc sách" và là "xương sống" của chiến lược chiến tranh đặc biệt. Mục tiêu của chúng là lập 16.000 ấp trong tổng số 17.000 ấp ở toàn miền Nam. Để thực hiện kế hoạch đó, địch đã tiến hành nhiều thủ đoạn, biện pháp khốc liệt và đẫm máu: bắn pháo ném bom bừa bãi, phá ruộng vườn, hÚc ủi nhà cửa, rải chất độc hoá học. Chúng đã mở hàng chục nghìn cuộc hành quân càn quét dài ngày, dùng bom đạn đánh phá ác liệt, chà đi xát lại từng khu vực để lừa dân vào ấp. Chúng dùng cả máy bay trực thăng, xe cơ giới, thiết giáp để "xúc" dân đến những nơi lập ấp. Trong các cuộc càn, địch đã áp dụng những chiến thuật mới của Mỹ mà chúng gọi là "bủa lưới phóng lao", "trên đe dưới búa", "phượng hoàng vồ mồi"... nhằm tiêu diệt bộ đội và du kích, thanh lọc quần chúng, bắt giết cán bộ ta. Các cuộc đột kích bất thần của lính biệt kích Ngụy đánh sâu vào các căn cứ kháng chiến đã gây cho ta không ít khó khăn, lúng túng trong việc bảo vệ hậu phương và căn cứ tại chỗ, bảo vệ các cơ quan lãnh đạo, chỉ huy của ta.


Ngày 29 tháng 4 năm 1961, Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ nhóm họp đề ra chính sách, biện pháp và các bước tiến hành chiến tranh đặc biệt ở miền Nam Việt Nam. Ngày 11 tháng 5 năm 1961, Kennơđi chính thức phê chuẩn các quyết định của Hội đồng An ninh Quốc gia, mang tên Bị vong lục về hành động An ninh Quốc gia số 52. Mục tiêu và hành động của Mỹ ở miền Nam được xác định trong Bị vong lục là nhằm: "Để ngăn chặn cộng sản thống trị Nam Việt Nam... để xúc tiến với nhịp độ ngày càng nhanh một loạt những hoạt động hỗ trợ lẫn nhau có tính chất quân sự, chính trị, kinh tế, tâm lý và không công khai nhằm thực hiện mục tiêu nói trên"1 (Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh Việt Nam, VNTTX phát hành, Hà Nội, 1971, t.1, tr.121). Những "hoạt động hỗ trợ" đó bao gồm các biện pháp: tăng cường và mở rộng quyền điều hành tác chiến, chỉ huy, yểm trợ của phái đoàn cố vấn viện trợ quân sự Mỹ (MAAG), kể cả việc huấn luyện thêm 20.000 người cho quân đội Sài Gòn, cố vấn cho lực lượng dân vệ lúc đó đã có khoảng 40.000 người; đưa 400 quân thuộc lực lượng đặc biệt Mỹ tới Nha Trang làm nhiệm vụ huấn luyện, trang bị, kể cả việc huấn luyện và trang bị cho lực lượng dân vệ dự tính lên tới 68.000 người để đối phó với chiến tranh du kích; khẩn trương triển khai kế hoạch bình định, lấy việc lập ấp chiến lược làm trọng tâm; tiến hành các chương trình kinh tế để "gây ảnh hưởng ngắn hạn và góp phần vào sự tồn tại lâu dài về kinh tế Nam Việt Nam"2 (Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh Việt Nam, VNTTX phát hành, Hà Nội, 1971, t.1, tr.121); phong toả vùng biển, bịt chặt biên giới nhằm chống việc xâm nhập từ miền Bắc vào miền Nam; tiến hành các hoạt động chiến tranh bí mật phá hoại miền Bắc Việt Nam1 (Bị vong lục của Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ (NSAM 52) gọi cuộc chiến tranh chống phá miền Bắc là "Chương trình hành động bí mật". Thoạt đầu, Kennơđi chấp thuận tiến hành các biện pháp như tuyển lựa, huấn luyện, trang bị, đài thọ và tung người vào miền Bắc để thu thập tin tức tình báo; tổ chức lực lượng biệt kích thâm nhập vùng Đông Nam Lào và vào sâu trong nội địa miền Bắc để tiến hành các hoạt động phá hoại; tiến hành các hoạt động chiến tranh tâm lý); ra sức củng cố hệ thống Ngụy quyền các cấp; cải thiện quan hệ giữa Chính phủ Sài Gòn với các nước khác, đặc biệt với Chính phủ Campuchia.


Đồng thời với việc chuẩn y các biện pháp trên đây, để tranh thủ sự đồng tình của các đồng minh châu Á và làm cho chính quyền, quân đội Sài Gòn yên tâm về chính sách chiến tranh của Mỹ, thăm dò khả năng triển khai quân Mỹ vào miền Nam Việt Nam, Kennơđi cử Phó tổng thống Mỹ L.B. Giônxơn sang thăm các nước Philippin, Đài Loan, Thái Lan, Ấn Độ, Pakixtan và miền Nam Việt Nam. Tại Sài Gòn, Giônxơn và Ngô Đình Diệm ra thông cáo chung gồm những thoả thuận chính sau đây:

- Mỹ tăng thêm viện trợ quân sự, kinh tế và cố vấn cho Nam Việt Nam.

- Tăng cường và mở rộng lực lượng vũ trang, bán vũ trang của Sài Gòn gồm quân chủ lực, bảo an và dân vệ.

- Lập nhóm chuyên viên kinh tế, tài chính, quân sự cao cấp của hai bên để xây dựng kế hoạch hành động chung giữa Chính phủ Mỹ và Chính phủ Sài Gòn.

- Mỹ hoan nghênh các nước khác viện trợ và hợp tác với Chính phủ Ngô Đình Diệm.

- Triển khai mạnh mẽ chương trình lập ấp chiến lược.


Ngoài ra, thông cáo chung Giônxơn - Diệm còn khẳng định: Những biện pháp mà hai bên đã thoả thuận "có thể sẽ được tiếp nối bằng những biện pháp rộng lớn hơn nữa"1 (Hồi ký Giôn xơn, VNTTX phát hành, Hà Nội, 1972, tr.33) khi tình hình đòi hỏi.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn