Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc là một thắng lợi vĩ đại của dân tộc ta, mở ra khả năng hoà bình thống nhất đất nước. Sau 9 năm chiến đấu đầy hi sinh, gian khổ, hớn ai hết, nhân dân ta có nguyện vọng tha thiết được sống trong hoà bình và thống nhất Tổ quốc. Trong những năm từ 1950 đến 1954, trên thực tế, nhân dân ta đã phải tiến hành cuộc chiến tranh không chỉ với Pháp mà cả với Mỹ. Kinh nghiệm cho chúng ta thấy sức mạnh kinh tế, quân sự và cả sự tàn bạo, nguy hiểm của đế quốc Mỹ.

Lai Châu03/07/2026Quân đội nhân dân (xã nậm mạ)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

I. Chiến tranh đạc biệt

Vào thời điểm những năm cuối của thập kỷ năm mươi, trên thế giới nổi lên ba điểm nóng: Trung Đông, Cu Ba, Việt Nam. Song, ở Trung Đông, mặc dù có những cuộc chiến tranh giữa các nước Arập với Ixraen, nhưng các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở đó do giai cấp tư sản dân tộc lãnh đạo. Lợi ích của các nước đế quốc, các công ty tư bản độc quyền ở vùng này không bị đe doạ. Mặt khác, Ixraen đồng minh của Mỹ - đủ mạnh để ngăn chặn phong trào cách mạng ở Trung Đông thay Mỹ, cho nên Hoa Kỳ chưa can thiệp trực tiếp, ở Cu Ba, bị thất bại trong vụ đưa quân đánh tHuế xâm lược Cu Ba ở vịnh Con Lợn tháng 4-1961 và cuộc khủng hoảng tên lửa ở vùng Caribê tháng 10- 1962. Mỹ buộc phải cam kết không xâm lược Cu Ba để đổi lấy việc Liên Xô rút tên lửa khỏi nước này; âm mưu của Mỹ là dùng phong toả, cấm vận kinh tế, kết hợp với cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt hòng làm sụp đổ Cu Ba. Ở Đông Dương, cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống Pháp, giành độc lập dân tộc và cuộc đấu tranh chống Mỹ xâm lược bằng chủ nghĩa thực dân kiểu mới đang làm suy yếu một hướng chiến lược trọng yếu trong chiến lược toàn cầu của Mỹ. Những thắng lợi của Việt Nam trong cuộc chiến chống Pháp đã góp phần làm thức tỉnh lương tri nhân loại, cổ vũ các dân tộc thuộc địa, nửa thuộc địa vùng lên đấu tranh để tự giải phóng. Việt Nam trở thành một ngọn cờ của phong trào giải phóng dân tộc, tiêu biểu cho sự kết hợp các trào lưu cách mạng của thời đại. Các nhà chiến lược Mỹ nhận định rằng có đè bẹp được cuộc kháng chiến của Việt Nam, Mỹ mới có thể đẩy lùi được phong trào đấu tranh của các dân tộc chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân. Vì vậy, Việt Nam trở thành trọng điểm trong chính sách ngăn chặn của Mỹ - nơi diễn ra cuộc đụng đầu lịch sử giữa hai hệ thống đế quốc chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa.


Hòng biến Việt Nam thành một con đê ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản ở phía Đông Nam châu Á, trong sáu năm kể từ năm 1953 đến năm 1960, Mỹ đã dựng lên ở miền Nam chính quyền Ngô Đình Diệm và viện trợ cho chính quyền ấy khoảng 2 tỷ đôla, trung bình mỗi năm 300 triệu. Số việr trợ của Mỹ đủ nuôi bộ máy Ngụy quân, Ngụy quyền để đàn áp các cuộc đấu tranh hoà bình yêu nước của nhân dân ta ở miền Nam, chuẩn bị "lấp sông Bến Hải". Với chiêu bài "độc lập", "tự do", cùng với viện trợ tương đối dồi dào, Mỹ che đậy một phần bộ mặt xâm lược thực dân của chúng, giữ cho chế độ Sài Gòn, trong những năm 1957, 1958, bề ngoài có vẻ ổn định. Mỹ hy vọng sẽ hoàn tất chương trình bình định miền Nam trong một vài năm tiếp theo, rồi chuyển sang thực hiện kế hoạch khai thác, kinh doanh. Điều hoàn toàn bất ngờ đối với Mỹ là tình hình miền Nam tưởng chừng như đang "biển lặng sóng yên", thì năm 1960, nhân dân ta đồng loạt nổi dậy, đánh sập bộ máy cai trị của địch ở nhiều vùng nông thôn thuộc các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, miền Đông Nam Bộ và một số vùng của các tỉnh Khu V, Tây Nguyên. Cuộc đồng khởi thắng lợi làm tiêu tan hy vọng của Mỹ, làm lộ rõ bộ mặt tay sai bán nước của tập đoàn Ngô Đình Diệm, tạo ra một bước ngoặt làm thay đổi cục diện chiến lược ở miền Nam Việt Nam có lợi cho cách mạng. Chủ nghĩa thực dân đứng trước nguy cơ tan rã. Giữa lúc đó vào năm 1959-1960 tình hình ở Lào có nhiều biến động. Theo các yêu cầu của Lào, khởi đầu là tiểu đoàn Pathét Lào tiếp đến là Coongle - Bộ trưởng bộ quốc phòng trong chính phủ Vương quốc Xuyanaphuma, tiếp nữa là chính phủ ba phái do hoàng thân Xuyanaphuma làm thủ tướng, Việt Nam liên tiếp phái Quân tình nguyện sang giúp bạn Lào tiến công giải phóng thị xã Sầm Nưa; Cánh Đồng Chum, Noọng Hét (Xiêng Khoảng), Thị xã Phong Xa Lỳ, Nậm Bạc, Bản Ban, Tha Viềng, Vang Viêng, Tha Thơm, Mường Hiềm, Pa Thí. Chính phủ liên hợp Lào yêu cầu Liên Xô, Trung Quốc viện trợ. Liên Xô đưa sang một Trung đoàn không quân và lập cầu hàng không để tiếp tế cho Lào, Trung Quốc giúp vũ khí bộ binh. Trước tình hình đó, Mỹ định đưa 30.000 quân chiến đấu của các nước trong hiệp uớc SEATO vào "bảo vệ" Đông Dương theo kiến nghị của Ngoại trưởng Đin Raxcơ, nhưng Anh và Pháp không ủng hộ. Tình hình cách mạng Đông Dương, đặc biệt ở Việt Nam phát triển mạnh theo chiều hướng bất lợi đối với Mỹ-Ngụy1 (Trong Nhìn lại quá khứ..., Mắc Namara kể lại rằng, ông đã nói với Kennơđi: "Trước khi có bất cứ cam kết gì ở Đông Dương, nên cân nhắc, so sánh Lào với các vấn đề thế giới khác". Cụ thể Mắc Namara cho biết, lúc bấy giờ, vấn đề Béclin đã căng thẳng đến mức Bộ Quốc phòng Mỹ "đang dự tính chuyển 6 sư đoàn (khoàng 90.000 quân chiến đấu) đến châu Âu". Nếu thế, "không thể tưởng tượng được rằng Mỹ lại có khả năng làm như vậy và tiến hành một cuộc chiến ở Đông Nam Á mà không có cuộc tổng động viên"). Cùng vào thời điểm này, chiến lược quân sự toàn cầu trả đũa ồ ạt tượng trưng cho sức mạnh của Mỹ cùng với những chính sách và biện pháp để thực hiện chiến lược đó đã không ngăn chặn được sự lớn mạnh của các nước xã hội chủ nghĩa - nhất là Liên Xô, Trung Quốc và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Tình hình Béclin và Cônggô căng thẳng. Cuộc chạy đua vũ trang giữa Mỹ và Liên Xô diễn ra gay gắt. Liên Xô vượt Mỹ về chế tạo vũ khí hạt nhân, tên lửa đạn đạo, tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân. Điều này đặt Mỹ trước một tình thế khó khăn trước phong trào giải phóng dân tộc đang dâng lên mạnh mẽ ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh sự lớn mạnh của Liên Xô hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, chỗ dựa cho phong trào giải phóng dân tộc. Năm 1961 giữa lúc khó khăn, Kennơđi được bầu làm Tổng thống nước Mỹ thay Aixenhao.


Sau khi xem xét, đánh giá lại toàn bộ tình hình thế giới và trong nước, chính quyền Kennơđi quyết định loại bỏ chiến lược trả đũa ồ ạt vì không thể ngăn chặn nổi những cuộc chiến tranh nổi dậy (chiến tranh giải phóng), tiêu biểu là ở Việt Nam. Kennơđi quyết định thành lập Nhóm đặc nhiệm gồm các quan chức nội các mới, do Rốtnen Ginpatrích, Thứ trưởng Quốc phòng lãnh đạo, nghiên cứu, thăm dò các hướng hành động của Mỹ để đối phó với tình hình Việt Nam và thế giới. Nhóm này vạch kế hoạch hành động toàn diện gồm các biện pháp quân sự, chính trị, kinh tế, công khai và bí mật, tăng nhanh số lượng nhân viên quân sự Mỹ ở Nam Việt Nam. So sánh Việt Nam với nhiều nơi khác trên thế giới mà trọng điểm là châu Âu, với khả năng của Mỹ, Kennơđi chưa thể tự tung tự tác mà trước mắt chỉ cho phép đưa vào Việt Nam khoảng 100 đến 400 quân thuộc lực lượng đặc biệt để huấn luyện quân Ngụy; đồng thời, chấp nhận phương hướng chiến lược toàn cầu mới do Mácxoen Taylơ đề xướng: chiến lược phản ứng linh hoạt. Thực hiện chiến lược mới này, Mỹ vẫn duy trì lực lượng hạt nhân chiến lược, đồng thời phát triển lực lượng thông thường để tiến hành các cuộc chiến tranh hạn chế. Theo đánh giá của các nhà quân sự Mỹ thì việc phát triển chiến tranh hạn chế là rất có lợi, vì tránh được đụng độ với các nước lớn trong phe xã hội chủ nghĩa, nhưng lại có thể giành thắng lợi ở các nơi khác bằng cách chủ động tạo ra ưu thế trong từng cuộc chiến tranh cụ thể do Mỹ lựa chọn như cuộc chiến tranh Việt Nam.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn