Đại tướng anh hùng Lê Trọng Tấn
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, tên tuổi Đại tướng Lê Trọng Tấn (1914-1986) gắn với những chiến dịch, những trận đánh đi vào lịch sử. Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng nhận xét, ông là “Người chỉ huy kiên cường, lỗi lạc, người bạn chiến đấu chí thiết”.
Đại tướng Lê Trọng Tấn, tên thật là Lê Trọng Tố (1-10-1914 / 5-12-1986), bí danh Ba Long, sinh tại làng Nghĩa Lộ, xã Yên Nghĩa, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây (nay là phường Yên Nghĩa, quận Hà Đông, TP Hà Nội) trong một gia đình trí thức.
khi là học sinh của trường Bưởi (nay là trường Chu Văn An ở Hà Nội) ông đã được tuyển vào Câu lạc bộ bóng đá Không quân của Pháp. Sau đó, có một thời gian ông là lính khố đỏ. Năm 1944, Lê Trọng Tấn giáp ngộ cách mạng, từ bỏ vào Câu lạc bộ bóng đá Không quân của Pháp tham gia phong trào kháng chiến.
Ông được mệnh danh là tướng trận, tướng tấn công và thường ví ông như Nguyên soái Zhukov của Quân đội Liên Xô. Các nhà khoa học quân sự và quân đội anh em kính nể ông về tài năng, đức độ. Ông đánh giá đúng tình hình, biết địch biết ta, thể hiện tài năng của người chỉ huy trận mạc trăm trận trăm thắng. Ông là hình mẫu của quân lệnh như sơn, thẳng thắn, nghiêm túc, bao dung, biết đánh, nhưng cũng biết dừng để bảo toàn lực lượng.
Cuộc đời ông đã có mặt hầu hết ở các chiến trường nóng bỏng và đã chỉ huy hàng trăm trận đánh trên cả 2 miền Nam - Bắc. Năm 1950, Đại đoàn 312 được thành lập, ông giữ chức Đại đoàn trưởng đầu tiên khi mới 36 tuổi. Dấu ấn 2 mốc son lịch sử của ông năm 1954, khi ông là Đại đoàn trưởng 312 chỉ huy tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, đánh phía Đông vào Mường Thanh, bắt sống tướng De Castries. Năm 1975, ông là Tư lệnh trưởng, chỉ huy các binh đoàn đánh phía Đông vào Dinh Độc Lập, cơ quan đầu não của ngụy quyền Sài Gòn, bắt sống tướng Dương Văn Minh buộc phải đầu hàng vô điều kiện.
Hai trận đánh, hai mốc son lịch sử đã kết thúc hai cuộc chiến tranh với quân đội viễn chinh Pháp, đế quốc Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn. Mở ra kỷ nguyên mới, hòa bình, thống nhất độc lập và tự do của dân tộc. Như Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói: Hai trận đánh xứng đáng hai lần anh hùng.
Không thể kể hết công trạng quá dài của ông, người ta chỉ có thể ghi nhận điều cốt yếu: Ông luôn được tin cậy để giao nhiệm vụ gây dựng nền móng ban đầu cho những công việc hệ trọng và mới mẻ. Không chiến trường nào không lưu dấu chân ông từ Bắc - Trung - Nam, không cuộc chiến tranh nào dù chống Pháp, chống Mỹ, chống bọn diệt chủng Pol Pot hay bảo vệ biên giới phía Bắc, lại không cần đến tài năng quân sự của ông. Ông được phong quân hàm Thiếu tướng năm 1961, Trung tướng năm 1974, Thượng tướng năm 1980 và Đại tướng năm 1984. Ông mất ngày 5-12-1986 tại Hà Nội.


