Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

ĐẠI TƯỚNG CHU HUY MÂN – TỪ NGƯỜI THANH NIÊN XÔ VIẾT NGHỆ TĨNH ĐẾN VỊ ĐẠI TƯỚNG CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

Lịch sử cách mạng Việt Nam thế kỷ XX ghi nhận nhiều nhà lãnh đạo quân sự xuất sắc trưởng thành từ phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân. Trong số đó, Đại tướng Chu Huy Mân là một gương mặt tiêu biểu. Cuộc đời hoạt động cách mạng của ông trải dài hơn bảy thập kỷ, gắn liền với những chặng đường quan trọng nhất của dân tộc, từ phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ cho đến công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc sau ngày đất nước thống nhất

An Giang06/06/2026Minh Triết (tổng hợp) (xã Long Kiến)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đại tướng Chu Huy Mân tên khai sinh là Chu Văn Điều, sinh ngày 17/3/1913 tại xã Yên Lưu, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An (nay thuộc phường Trường Vinh, tỉnh Nghệ An). Ông sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo trên vùng đất giàu truyền thống yêu nước và cách mạng.

Từ khi còn nhỏ, Chu Văn Điều đã chứng kiến cuộc sống cơ cực của người dân lao động dưới ách thống trị của thực dân, phong kiến. Những bất công trong xã hội đã sớm hun đúc trong ông tinh thần đấu tranh và khát vọng giải phóng dân tộc.

Năm 1929, khi mới 16 tuổi, ông tham gia các hoạt động cách mạng. Một năm sau, ở tuổi 17, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, trở thành một trong những đảng viên trẻ tuổi của phong trào cách mạng Nghệ An.

Đây cũng là thời điểm phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh bùng nổ mạnh mẽ. Trong những năm tháng sôi động ấy, Chu Văn Điều tham gia Đội Tự vệ đỏ, trực tiếp bảo vệ cơ sở cách mạng và tham gia nhiều hoạt động đấu tranh chống thực dân Pháp. Với năng lực và tinh thần trách nhiệm cao, ông lần lượt được giao giữ các chức vụ Bí thư Chi bộ xã và Bí thư Phân huyện ủy Hưng Nguyên.

Năm 1935, ông đổi tên thành Chu Huy Mân – cái tên gắn liền với cuộc đời hoạt động cách mạng và binh nghiệp vẻ vang sau này.

Từ năm 1937 đến năm 1943, thực dân Pháp nhiều lần bắt giam ông. Chu Huy Mân bị giam giữ tại nhiều nhà lao từ Nghệ An đến Kon Tum. Trong suốt những năm tháng tù đày, ông phải chịu đựng nhiều cực hình nhưng vẫn giữ vững khí tiết của người cộng sản, không khuất phục trước kẻ thù.

Năm 1943, ông vượt ngục thành công khỏi nhà tù Đắk Tô và tiếp tục hoạt động bí mật tại miền Trung, góp phần khôi phục và phát triển phong trào cách mạng trong điều kiện hết sức khó khăn.

Sau thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chu Huy Mân chính thức bước vào quân đội và nhanh chóng trở thành một trong những cán bộ quân sự nổi bật của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ông đảm nhiệm nhiều vị trí chỉ huy quan trọng tại các Trung đoàn 72, 74 và 174. Đồng đội và chiến sĩ luôn nhắc đến ông như một người chỉ huy dũng cảm, gần gũi và có năng lực tổ chức chiến đấu hiệu quả.

Năm 1951, ông được giao trọng trách Chính ủy Đại đoàn 316 – một trong những đơn vị chủ lực mạnh nhất của Quân đội nhân dân Việt Nam thời kỳ đó.

Tại Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, với cương vị Chính ủy Đại đoàn 316, Chu Huy Mân cùng tập thể lãnh đạo đơn vị đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của trận quyết chiến chiến lược, làm thay đổi cục diện cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và mở đường cho việc ký kết Hiệp định Genève.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ông được Đảng và Nhà nước giao nhiệm vụ Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào. Trong thời gian công tác, ông trực tiếp giúp đỡ lực lượng cách mạng Lào xây dựng tổ chức, đào tạo cán bộ và phát triển lực lượng vũ trang trong giai đoạn đầy khó khăn.

Năm 1958, Chu Huy Mân được phong quân hàm Thiếu tướng.

Ba năm sau, ông được bổ nhiệm giữ chức Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 4 – địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng của miền Bắc.

Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn quyết liệt, ông tiếp tục được giao những trọng trách nặng nề. Năm 1965, Chu Huy Mân trở thành Tư lệnh kiêm Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên, một trong những chiến trường có ý nghĩa chiến lược sống còn đối với cả hai phía.

Từ năm 1967 đến năm 1975, ông giữ chức Tư lệnh Quân khu 5. Dưới sự lãnh đạo và chỉ huy của ông, lực lượng vũ trang Khu 5 đã tiến hành nhiều chiến dịch quan trọng, góp phần làm suy yếu đáng kể lực lượng đối phương trên chiến trường miền Trung.

Đặc biệt, trong mùa Xuân năm 1975, Chu Huy Mân được giao nhiệm vụ Chính ủy Chiến dịch Huế – Đà Nẵng. Chiến dịch giành thắng lợi nhanh chóng, giải phóng hoàn toàn miền Trung, tạo thế và lực quan trọng cho Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn.

Sau ngày đất nước thống nhất, Đại tướng Chu Huy Mân tiếp tục đảm nhiệm nhiều cương vị lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước và Quân đội.

Ông từng giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Ủy viên Bộ Chính trị và Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước.

Năm 1974, ông được phong quân hàm Thượng tướng.

Đến năm 1982, ông được phong quân hàm Đại tướng – cấp bậc cao nhất trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Đại tướng Chu Huy Mân được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý như Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cùng nhiều huân chương, huy chương cao quý khác.

Ngày 1/7/2006, Đại tướng Chu Huy Mân từ trần tại Hà Nội, hưởng thọ 93 tuổi.

Sự ra đi của ông để lại niềm tiếc thương sâu sắc đối với nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ và nhân dân cả nước.

Từ một thanh niên tham gia phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh đến vị Đại tướng của Quân đội nhân dân Việt Nam, cuộc đời Chu Huy Mân là hình ảnh tiêu biểu của một thế hệ cách mạng đã hiến dâng trọn đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ và xây dựng đất nước.

Ông cũng là một trong số rất ít những nhà lãnh đạo từng trực tiếp tham gia phong trào cách mạng từ những năm 1930, góp mặt trong cả hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đồng thời đảm nhiệm những trọng trách cao nhất của Đảng, Nhà nước và Quân đội trong thời kỳ hòa bình.

Tên tuổi và sự nghiệp của Đại tướng Chu Huy Mân mãi là một phần đáng tự hào trong lịch sử cách mạng Việt Nam thế kỷ XX.

Minh Triết (tổng hợp)

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn