Đại tướng Chu Huy Mân - Vị tướng được Bác Hồ đặt biệt danh “Hai Mạnh”, ba lần sang giúp cách mạng Lào, là Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên
Vị tướng được Bác Hồ đặt biệt danh “Hai Mạnh”, ba lần sang giúp cách mạng Lào, là Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên Được Bác Hồ đặt biệt danh “Hai Mạnh” vì giỏi cả quân sự lẫn chính trị, ông từng ba lần sang giúp cách mạng Lào và giữ cương nhiều vị trí quan trọng của quân đội, để lại nhiều dấu ấn trong các chiến dịch quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
Vị tướng “Hai Mạnh” và 3 lần sang giúp cách mạng Lào
Trong lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Đại tướng Chu Huy Mân là một trong những vị tướng được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt cho biệt danh đặc biệt: “Hai Mạnh”. Tên gọi ấy gắn với khả năng lãnh đạo chính trị và chỉ huy quân sự của ông, hai lĩnh vực luôn song hành trong suốt cuộc đời binh nghiệp.
Không chỉ có nhiều đóng góp trên các chiến trường Việt Nam, Đại tướng Chu Huy Mân còn gắn bó sâu sắc với cách mạng Lào. Trong những năm tháng thực hiện nhiệm vụ quốc tế, ông được cán bộ, chiến sĩ và nhân dân các bộ tộc Lào trìu mến gọi là “Tướng Thao Chăn”.
Theo tư liệu của Thông tấn xã Việt Nam, Đại tướng Chu Huy Mân có 3 lần trực tiếp sang giúp cách mạng Lào, lần thứ nhất từ tháng 8/1954 đến tháng 4/1957, lần thứ hai từ tháng 8 đến tháng 12/1957 và lần thứ ba từ tháng 12/1960 đến tháng 4/1961
Lần đầu tiên ông nhận nhiệm vụ tại Lào diễn ra không lâu sau thắng lợi Điện Biên Phủ năm 1954. Khi ấy, Chu Huy Mân được Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh giao làm Đoàn trưởng, Bí thư Đảng ủy Đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào, có nhiệm vụ giúp lực lượng cách mạng nước bạn xây dựng tổ chức quân đội, đào tạo cán bộ và củng cố lực lượng vũ trang.
Đây là thời điểm cách mạng Lào đứng trước nhiều khó khăn. Lực lượng vũ trang còn non trẻ, tổ chức chưa hoàn chỉnh, điều kiện trang bị và huấn luyện hạn chế. Việc xây dựng một quân đội có khả năng chiến đấu lâu dài, đáp ứng yêu cầu bảo vệ vùng giải phóng trở thành nhiệm vụ cấp thiết.
Suốt thời gian bên Lào, Đại tướng Chu Huy Mân luôn nhớ và làm đúng theo lời Bác căn dặn: “Giúp bạn là tự giúp mình nhưng phải bồi dưỡng bạn làm chủ từng việc cho đến làm chủ toàn diện, không bao biện làm thay”.
Bằng kinh nghiệm tích lũy trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Chu Huy Mân đã trực tiếp nghiên cứu, đề xuất phương án tổ chức Quân đội Pathet Lào. Ông chủ trương xây dựng lực lượng phù hợp với điều kiện thực tế, lấy giáo dục chính trị, tư tưởng và đào tạo cán bộ làm trọng tâm, đồng thời chú trọng xây dựng các đơn vị bộ binh và lực lượng trợ chiến.

Năm 1956, Tổng Bí thư Đảng Nhân dân Cách mạng Lào Kaysone Phomvihane (Cayxỏn Phômvihả) và vợ, con đến thăm Trưởng đoàn Cố vấn quân sự Việt Nam Chu Huy Mân (trái). Ảnh: Tư liệu.
Đầu tháng 12/1954, tại Hội nghị quân chính Quân đội Pathet Lào do đồng chí Kaysone Phomvihane (Cayxỏn Phômvihản) - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Lào, chủ trì, đề án xây dựng lực lượng vũ trang đã được thông qua. Đến cuối tháng 12 cùng năm, với sự giúp đỡ của Đoàn 100 do Chu Huy Mân phụ trách, ba cơ quan quan trọng gồm Tham mưu, Chính trị và Hậu cần thuộc Bộ Quốc phòng Lào từng bước được hình thành. Đây là một trong những đóng góp thiết thực của ông đối với quá trình xây dựng quân đội cách mạng Lào.
Trong các lần trở lại Lào sau đó, Chu Huy Mân tiếp tục tham gia công tác cố vấn, hỗ trợ củng cố lực lượng và phối hợp giải quyết những nhiệm vụ quân sự, chính trị quan trọng. Giai đoạn 1960 - 1961, ông đảm nhiệm cương vị Tổng cố vấn quân sự Việt Nam tại Lào.
Với tinh thần giúp bạn xây dựng lực lượng để tự đảm đương nhiệm vụ, Chu Huy Mân góp phần tạo nền tảng cho sự trưởng thành của Quân đội Pathet Lào, đóng góp vào cuộc đấu tranh giành độc lập và sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Lào.
Những năm tháng công tác tại nước bạn cũng để lại dấu ấn sâu sắc trong cuộc đời vị tướng. Tên gọi “Thao Chăn” trở thành biểu tượng của tình cảm và sự gắn bó giữa ông với cán bộ, chiến sĩ và nhân dân Lào.
Vị tướng từng vượt ngục để tiếp tục hoạt động cách mạng, chỉ huy các trận đánh lớn ở Mặt trận Tây Nguyên
Đại tướng Chu Huy Mân tên khai sinh là Chu Văn Điều, sinh ngày 17/3/1913 tại xã Yên Lưu, tổng Yên Trường, phủ Hưng Nguyên (nay là tỉnh Nghệ An), trong một gia đình nông dân có truyền thống hiếu học.
Sinh ra trên quê hương giàu truyền thống cách mạng, ông sớm tham gia các phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp. Năm 1929, khi mới 16 tuổi, Chu Huy Mân bắt đầu hoạt động cách mạng. Một năm sau, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.
Trong những năm 1930 - 1940, ông nhiều lần bị thực dân Pháp bắt giam, trải qua các nhà lao Vinh, Đắk Lay, Đắk Tô ở Kon Tum. Năm 1943, ông vượt ngục tìm đường trở lại hoạt động cách mạng.

Thượng tướng Chu Huy Mân - nguyên Tư lệnh Quân giải phóng Quân khu 5 và Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Sở chỉ huy Quân đoàn 1 Ngụy quyền Sài Gòn ngay sau khi TP Đà Nẵng giải phóng (3/1975). Ảnh: Tư liệu/TTXVN.
Sau khi vượt ngục, Chu Huy Mân đến Quảng Nam, tham gia Ban Việt Minh tỉnh, Tỉnh ủy và sau đó giữ chức Phó Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam. Trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông tham gia lãnh đạo phong trào giành chính quyền tại địa phương.
Sau đó, Chu Huy Mân được phân công công tác trong quân đội. Ông lần lượt đảm nhiệm các chức vụ Chính trị viên Tỉnh đội Quảng Nam, Chủ tịch Ủy ban Quân chính bốn tỉnh Trung Bộ, sau đó được điều ra chiến khu Việt Bắc.
Từ năm 1947 đến năm 1949, ông đảm nhiệm các cương vị chỉ huy, lãnh đạo tại Trung đoàn 72, Trung đoàn 74 và Trung đoàn 174. Trong Chiến dịch Biên giới năm 1950, ông cùng cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 174 tham gia các trận đánh quan trọng, góp phần vào thắng lợi tại Đông Khê.
Tháng 5/1951, Đại đoàn 316 được thành lập, Chu Huy Mân được giao làm Phó Chính ủy, sau đó giữ chức Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Đại đoàn 316. Trên cương vị này, ông cùng tập thể lãnh đạo, chỉ huy Đại đoàn 316 tham gia các chiến dịch Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào và Điện Biên Phủ.
Đặc biệt, trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, Đại đoàn 316 đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ quan trọng ở phía Đông tập đoàn cứ điểm, tham gia những trận đánh ác liệt tại các cứ điểm A1, C1, C2.
Các đơn vị của Đại đoàn 316 góp phần phá vỡ hệ thống phòng ngự của quân Pháp, tạo điều kiện cho các lực lượng tiến vào trung tâm Mường Thanh, kết thúc thắng lợi Chiến dịch Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954.
Sau những năm thực hiện nhiệm vụ quốc tế tại Lào và giữ các chức vụ quan trọng ở Quân khu 4, Quân khu Tây Bắc, tháng 9/1963, Chu Huy Mân được Trung ương điều động vào chiến trường Quân khu 5. Đây là chiến trường rộng lớn, bao gồm nhiều địa bàn chiến lược ở miền Trung và Tây Nguyên, nơi diễn ra những cuộc đụng độ ác liệt trong kháng chiến chống Mỹ.

Đại tướng Chu Huy Mân. Ảnh: Tư liệu.
Tháng 8/1965, ông được giao làm Tư lệnh kiêm Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Mặt trận B3 - Tây Nguyên. Đây cũng là thời điểm quân đội Mỹ bắt đầu đưa lực lượng chiến đấu quy mô lớn vào miền Nam Việt Nam.
Thời điểm này, ông trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo nhiều hoạt động tác chiến, nổi bật là Chiến dịch Plâyme - Ia Đrăng năm 1965. Chiến dịch diễn ra trong bối cảnh quân Mỹ triển khai chiến thuật cơ động đường không bằng trực thăng, kết hợp hỏa lực mạnh để tìm diệt lực lượng chủ lực đối phương.
Bộ đội chủ lực trên chiến trường Tây Nguyên đã tổ chức các trận đánh nhằm vào lực lượng quân đội Sài Gòn và quân Mỹ, từng bước đúc kết kinh nghiệm đối phó với phương thức tác chiến mới.
Sau đó, Chu Huy Mân tiếp tục chỉ huy Chiến dịch Sa Thầy năm 1966 và đảm nhiệm nhiều trọng trách tại Quân khu 5.
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, ông giữ vai trò lãnh đạo, chỉ huy quan trọng trong Chiến dịch Huế - Đà Nẵng, trực tiếp đảm nhiệm cương vị Chính ủy Chiến dịch Đà Nẵng cuối tháng 3/1975.
Chiến dịch kết thúc với việc giải phóng TP Đà Nẵng ngày 29/3/1975, góp phần làm thay đổi cục diện chiến trường miền Nam, mở đường cho cuộc Tổng tiến công tiến tới giải phóng Sài Gòn.
Trước đó, năm 1958, ông được phong quân hàm Thiếu tướng. Đến năm 1974, khi đang đảm nhiệm những nhiệm vụ quan trọng trên chiến trường miền Trung, ông được thăng quân hàm vượt cấp lên Thượng tướng mà không qua cấp Trung tướng.
Sau khi đất nước thống nhất, tháng 3/1977, Chu Huy Mân được Bộ Chính trị giao giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương.
Năm 1980, ông được phong quân hàm Đại tướng.
Trong suốt sự nghiệp, Đại tướng Chu Huy Mân từng đảm nhiệm nhiều cương vị lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước và Quân đội. Ông được trao tặng Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh cùng nhiều phần thưởng cao quý khác.
Ngày 1/7/2006, Đại tướng Chu Huy Mân qua đời, hưởng thọ 93 tuổi.



